BJT 1663Tôi sống trên tấm thảm bằng lá ở không xa núi Hi-mã-lạp. Khi ấy, tôi đạt được sự ham thích các loại cỏ và có thói quen nằm ngủ (ở thảm lá).
BJT 1664Sau khi mang lại và sửa soạn (các) trái táo, trái bhallātaka, và trái billa, tôi đào xới các loại rễ củ kalamba, biḷālī, và takkala.
BJT 1665Sau khi biết được ý định của tôi, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã đi đến khu vực của tôi.
BJT 1666Khi bậc Long Tượng, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu đi đến, tôi đã dâng lên củ biḷālī và đã đặt vào trong bình bát.
BJT 1667Khi ấy, trong lúc làm cho tôi được hoan hỷ, bậc Đại Hùng đã thọ dụng. Sau khi thọ dụng, đấng Toàn Tri đã nói lên lời kệ này:
BJT 1668“Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, ngươi đã dâng cúng củ biḷālī đến Ta, ngươi không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.”
BJT 1669Trước đây năm mươi bốn kiếp, (tôi đã là) vị tên Sumekhaliya, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1670(Đây) là lần cuối cùng của tôi trong sự luân chuyển, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Tôi duy trì thân mạng cuối cùng ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.
BJT 1671Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Biḷālidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Biḷālidāyaka là phần thứ chín.
“Himavantassāvidūre,
vasāmi paṇṇasanthare;
Ghāsesu gedhamāpanno,
seyyasīlo cahaṁ tadā.
Khaṇantālu kalambāni,
biḷālitakkalāni ca;
Kolaṁ bhallātakaṁ billaṁ,
āhatvā paṭiyāditaṁ.
Padumuttaro lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Mama saṅkappamaññāya,
āgacchi mama santikaṁ.
Upāgataṁ mahānāgaṁ,
devadevaṁ narāsabhaṁ;
Biḷāliṁ paggahetvāna,
pattamhi okiriṁ ahaṁ.
Paribhuñji mahāvīro,
tosayanto mamaṁ tadā;
Paribhuñjitvāna sabbaññū,
imaṁ gāthaṁ abhāsatha.
‘Sakaṁ cittaṁ pasādetvā,
biḷāliṁ me adā tuvaṁ;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjasi’.
Carimaṁ vattate mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Dhāremi antimaṁ dehaṁ,
sammāsambuddhasāsane.
Catupaññāsito kappe,
sumekhaliyasavhayo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā biḷālidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Biḷālidāyakattherassāpadānaṁ navamaṁ.
Walt 1663 In the Himalayan region,
I dwelt on a mat made of leaves.
Not feeling any greed for food,
I was always happy back then. Verse 1
Walt 1664Digging up roots like kaḷamba,
biḷāli and takkaḷi too
I ate them prepared by adding
jujube, marking-nut, and bel. Verse 2
Walt 1665 Padumuttara, World-Knower
Sacrificial Recipient,
discerning what I was thinking,
came into my presence just then. Verse 3
Walt 1666 Taking some biḷāli roots for
the Great Elephant who had come,
the God of Gods, the Bull of Men,
I placed them in his alms-bowl then. Verse 4
Walt 1667 The Great Hero then consumed them
which made me extremely happy.
After eating, the Omniscient One
spoke this verse to me at that time: Verse 5
Walt 1668 “You’ve brought pleasure to your own heart
by giving me these roots to eat.
For one hundred thousand aeons
you’ll come to know no bad rebirth.” Verse 6
Walt 1670 This is my last going around;
all new existence is destroyed.
I am bearing my last body
in the Buddha’s dispensation. Verse 7
Walt 1669 In the fifty-fourth aeon thence
the one known as Sumekhali
was a wheel-turner with great strength,
possessor of the seven gems. Verse 8
Walt 1671 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Biḷālidāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Biḷālidāyaka Thera is finished.
BJT 1663Tôi sống trên tấm thảm bằng lá ở không xa núi Hi-mã-lạp. Khi ấy, tôi đạt được sự ham thích các loại cỏ và có thói quen nằm ngủ (ở thảm lá).
BJT 1664Sau khi mang lại và sửa soạn (các) trái táo, trái bhallātaka, và trái billa, tôi đào xới các loại rễ củ kalamba, biḷālī, và takkala.
BJT 1665Sau khi biết được ý định của tôi, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã đi đến khu vực của tôi.
BJT 1666Khi bậc Long Tượng, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu đi đến, tôi đã dâng lên củ biḷālī và đã đặt vào trong bình bát.
BJT 1667Khi ấy, trong lúc làm cho tôi được hoan hỷ, bậc Đại Hùng đã thọ dụng. Sau khi thọ dụng, đấng Toàn Tri đã nói lên lời kệ này:
BJT 1668“Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, ngươi đã dâng cúng củ biḷālī đến Ta, ngươi không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.”
BJT 1669Trước đây năm mươi bốn kiếp, (tôi đã là) vị tên Sumekhaliya, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1670(Đây) là lần cuối cùng của tôi trong sự luân chuyển, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Tôi duy trì thân mạng cuối cùng ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.
BJT 1671Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Biḷālidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Biḷālidāyaka là phần thứ chín.
“Himavantassāvidūre,
vasāmi paṇṇasanthare;
Ghāsesu gedhamāpanno,
seyyasīlo cahaṁ tadā.
Khaṇantālu kalambāni,
biḷālitakkalāni ca;
Kolaṁ bhallātakaṁ billaṁ,
āhatvā paṭiyāditaṁ.
Padumuttaro lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Mama saṅkappamaññāya,
āgacchi mama santikaṁ.
Upāgataṁ mahānāgaṁ,
devadevaṁ narāsabhaṁ;
Biḷāliṁ paggahetvāna,
pattamhi okiriṁ ahaṁ.
Paribhuñji mahāvīro,
tosayanto mamaṁ tadā;
Paribhuñjitvāna sabbaññū,
imaṁ gāthaṁ abhāsatha.
‘Sakaṁ cittaṁ pasādetvā,
biḷāliṁ me adā tuvaṁ;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjasi’.
Carimaṁ vattate mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Dhāremi antimaṁ dehaṁ,
sammāsambuddhasāsane.
Catupaññāsito kappe,
sumekhaliyasavhayo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā biḷālidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Biḷālidāyakattherassāpadānaṁ navamaṁ.