BJT 1776Ở không xa núi Hi-mã-lạp có ngọn núi tên là Kukkuṭa. Ở trung tâm của ngọn núi ấy có vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật sinh sống.
BJT 1777Có năm ngàn người học trò luôn luôn vây quanh tôi. Các vị ấy đã là những người (ngủ) thức dậy trước (tôi) và được tự tin vào các chú thuật.
BJT 1778“Hỡi người thầy của chúng con, đức Phật đã hiện khởi ở trên thế gian, xin thầy biết rõ về điều ấy. Đấng Chiến Thắng cao quý có ba mươi hai hảo tướng và tám mươi tướng phụ, có vầng hào quang tợ như mặt trời chiếu sáng.”
BJT 1779Sau khi lắng nghe lời nói của những người học trò, vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật đã rời khu ẩn cư và hỏi những người học trò phương hướng về khu vực mà đấng Đại Hùng bậc Lãnh Đạo Thế Gian cư ngụ.
BJT 1780Tôi đã lễ bái phương hướng ấy (hướng đến) đấng Chiến Thắng, bậc không người đối thủ. Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, tôi đã tôn vinh đức Như Lai ấy.
BJT 1781“Này các đệ tử, hãy đến. Chúng ta sẽ đi và sẽ diện kiến đức Như Lai. Sau khi đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư, chúng ta sẽ lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.”
BJT 1782Tôi đã ra đi một mình và tôi đã lâm bệnh. Trong khi bị hành hạ bởi căn bệnh, tôi đã đi đến nhà nghỉ chân để nằm nghỉ.
BJT 1783Sau khi triệu tập tất cả những người học trò lại, tôi đã hỏi họ về đức Như Lai: “Đức độ của đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc có sự Giác Ngộ tuyệt đối, là như thế nào?”
BJT 1784Được tôi hỏi, các vị ấy đã trả lời theo như đã nhìn thấy. Các vị đã mô tả đức Phật tối thượng ấy một cách kính trọng như Ngài đang ở trước mặt của tôi.
BJT 1785Sau khi lắng nghe lời nói của họ, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp bằng các bông hoa, tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 1786Sau khi hỏa táng thi thể của tôi, các vị ấy đã đi đến gặp đức Phật. Họ đã chắp tay lên và đã đảnh lễ bậc Đạo Sư.
BJT 1787Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp bằng các bông hoa dành cho đức Thiện Thệ bậc Đại Ẩn Sĩ, tôi đã không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 1788(Trước đây) bốn mươi bốn ngàn kiếp, mười sáu vị Sát-đế-lỵ (cùng) tên Aggisama đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1789(Trước đây) hai mươi ngàn kiếp, ba mươi tám vị lãnh chúa (cùng) tên Ghatāsana đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 1790Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pupphathūpiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Himavantassāvidūre,
kukkuro nāma pabbato;
Vemajjhe tassa vasati,
brāhmaṇo mantapāragū.
Pañca sissasahassāni,
parivārenti maṁ sadā;
Pubbuṭṭhāyī ca te āsuṁ,
mantesu ca visāradā.
Buddho loke samuppanno,
taṁ vijānātha no bhavaṁ;
Asītibyañjanānassa,
bāttiṁsavaralakkhaṇā.
Byāmappabho jinavaro,
ādiccova virocati;
Sissānaṁ vacanaṁ sutvā,
brāhmaṇo mantapāragū.
Assamā abhinikkhamma,
disaṁ pucchati sissake;
Yamhi dese mahāvīro,
vasati lokanāyako.
Tāhaṁ disaṁ namassissaṁ,
jinaṁ appaṭipuggalaṁ;
Udaggacitto sumano,
pūjesiṁ taṁ tathāgataṁ.
Etha sissā gamissāma,
dakkhissāma tathāgataṁ;
Vanditvā satthuno pāde,
sossāma jinasāsanaṁ.
Ekāhaṁ abhinikkhamma,
byādhiṁ paṭilabhiṁ ahaṁ;
Byādhinā pīḷito santo,
sālaṁ vāsayituṁ gamiṁ.
Sabbe sisse samānetvā,
apucchiṁ te tathāgataṁ;
Kīdisaṁ lokanāthassa,
guṇaṁ paramabuddhino.
Te me puṭṭhā viyākaṁsu,
Yathā dassāvino tathā;
Sakkaccaṁ buddhaseṭṭhaṁ taṁ,
Desesuṁ mama sammukhā.
Tesāhaṁ vacanaṁ sutvā,
sakaṁ cittaṁ pasādayiṁ;
Pupphehi thūpaṁ katvāna,
tattha kālaṅkato ahaṁ.
Te me sarīraṁ jhāpetvā,
agamuṁ buddhasantikaṁ;
Añjaliṁ paggahetvāna,
satthāramabhivādayuṁ.
Pupphehi thūpaṁ katvāna,
sugatassa mahesino;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjahaṁ.
Cattālīsasahassamhi,
kappe soḷasa khattiyā;
Nāmenaggisamā nāma,
cakkavattī mahabbalā.
Vīsakappasahassamhi,
rājāno cakkavattino;
Ghatāsanasanāmāva,
aṭṭhattiṁsa mahīpatī.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pupphathūpiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pupphathūpiyattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.
Walt 1776 In the Himalayan region,
there’s a mountain named Lambaka.
I was dwelling at its center,
a brahmin master of mantras. Verse 1
Walt 1777 At that time five thousand students
were constantly surrounding me.
They all rose earlier than I,
and were likewise skilled in mantras. Verse 2
Walt 1778“Teacher, you should know the fact that
Buddha has been born in the world,
bearing thirty-two great marks and
eighty lesser marks upon him.
The aura of the Best Victor,
fathom-wide, shines just like the sun.” Verse 3
Walt 1779After hearing his students’ words,
the brahmin master of mantras,
setting out from his own ashram,
then asked directions, that brahmin:
“In which region is he living,
the Great Hero, the World-Leader? Verse 4
Walt 1780 I will worship that direction
and the Victor, Without Rival.
And happy, with a happy heart,
I will worship the Thus-Gone-One. Verse 5
Walt 1781 Come now, you students, let us go;
let us see him, the Thus-Gone-One.
Having worshipped the Teacher’s feet,
we will hear his dispensation.” Verse 6
Walt 1782 One day after I had set out,
I contracted a bad illness.
I laid down beneath a sal tree,
in great pain due to that illness. Verse 7
Walt 1783 Assembling all the students then
I asked them questions in this way:
“of what sort is the virtue of
the World’s Lord, the Supreme Buddha?” Verse 8
Walt 1784 Then questioned by me they explained
the Best Buddha most thoroughly,
as well as they could see him then
and showed him to me face-to-face. Verse 9
Walt 1785 After hearing the students’ words,
I brought my own heart pleasure then.
Having built a floral stupa
I passed away right on the spot. Verse 10
Walt 1786 They, after burning my body,
came into the Buddha’s presence.
Pressing hands together for him,
they all worshipped the Teacher then. Verse 11
Walt 1787 Having made a floral stupa
for the Well-Gone-One, the Great Sage,
for one hundred thousand aeons,
I’ve come to know no bad rebirth. Verse 12
Walt 1788 In the forty-thousandth aeon
there were sixteen Kṣatriyan men.
All were known as Aggisamā,
wheel-turning kings with great power. Verse 13
Walt 1789 In the twenty-thousandth aeon,
thirty-eight rulers of the earth
were kings who turned the wheel of law,
and all were named Ghatāsana. Verse 14
Walt 1790 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 15
Thus indeed Venerable Pupphathūpiya Thera spoke these verses.
The legend of Pupphathūpiya Thera is finished.