BJT 2415Lúc bấy giờ, tôi đã là người làm tràng hoa tên Asita. Sau khi chọn lấy vòng hoa đội đầu, tôi đã ra đi để dâng lên đức vua.
BJT 2416Khi chưa gặp được đức vua, tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Sikhī. Được mừng rỡ, tôi đã dâng (vòng hoa) lên đức Phật với tâm mừng rỡ.
BJT 2417(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2418Trước đây hai mươi lăm kiếp, tôi đã là vị vua có oai lực lớn lao tên Vebhāra, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2419Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sukatāveliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Asito nāma nāmena,
mālākāro ahaṁ tadā;
Āveḷaṁ paggahetvāna,
rañño dātuṁ vajāmahaṁ.
Asampattomhi rājānaṁ,
addasaṁ sikhināyakaṁ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
buddhassa abhiropayiṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
yaṁ pupphamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Pañcavīse ito kappe,
rājāhosiṁ mahabbalo;
Vebhāro nāma nāmena,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sukatāveḷiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sukatāveḷiyattherassāpadānaṁ navamaṁ.
Walt 2415 Back then I was named Asita,
and I was a garland-maker.
Picking up a flower-garland,
I went to give it to the king. Verse 1
Walt 2416 Not having yet met with the king,
I saw the Leader, Sikhi.
Happy, and with a happy heart,
I offered it to the Buddha. Verse 2
Walt 2417 In the thirty-one aeons since
I did pūjā with that flower,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 3
Walt 2418 In the twenty-fifth aeon hence
I was a king who had great strength,
known by the name of Dvebhāra,
a wheel-turning king with great strength. Verse 4
Walt 2419 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 5
Thus indeed Venerable Sukatāveḷiya Thera spoke these verses.
The legend of Sukatāveḷiya Thera is finished.
BJT 2415Lúc bấy giờ, tôi đã là người làm tràng hoa tên Asita. Sau khi chọn lấy vòng hoa đội đầu, tôi đã ra đi để dâng lên đức vua.
BJT 2416Khi chưa gặp được đức vua, tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Sikhī. Được mừng rỡ, tôi đã dâng (vòng hoa) lên đức Phật với tâm mừng rỡ.
BJT 2417(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 2418Trước đây hai mươi lăm kiếp, tôi đã là vị vua có oai lực lớn lao tên Vebhāra, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2419Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sukatāveliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Asito nāma nāmena,
mālākāro ahaṁ tadā;
Āveḷaṁ paggahetvāna,
rañño dātuṁ vajāmahaṁ.
Asampattomhi rājānaṁ,
addasaṁ sikhināyakaṁ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
buddhassa abhiropayiṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
yaṁ pupphamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Pañcavīse ito kappe,
rājāhosiṁ mahabbalo;
Vebhāro nāma nāmena,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sukatāveḷiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sukatāveḷiyattherassāpadānaṁ navamaṁ.