BJT 3284Tôi đã là người phụ việc chùa ở thành phố Bandhumatī. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đang di chuyển ở trên không trung.
BJT 3285Tôi đã cầm lấy trái cây bánh mì và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đã thọ nhận, trong khi đang đứng ở hư không.
BJT 3286Sau khi tôi đã dâng cúng trái cây đến đức Phật với tâm ý trong sạch, tôi có được sự sanh khởi niềm vui, (điều ấy là) nguồn đem lại sự an lạc trong thời hiện tại.
BJT 3287Khi ấy, tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc bao la và sự an lạc tối thượng. Còn có châu báu sanh lên (cho tôi) khi tôi được sanh ra nơi này nơi khác.
BJT 3288Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3289Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3290Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3291Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Labujadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Nagare bandhumatiyā,
āsiṁ ārāmiko tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
gacchantaṁ anilañjase.
Labujassa phalaṁ gayha,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ;
Ākāse ṭhitako santo,
paṭigaṇhi mahāyaso.
Vittisañjananaṁ mayhaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvahaṁ;
Phalaṁ buddhassa datvāna,
vippasannena cetasā.
Adhigacchiṁ tadā pītiṁ,
vipulañca sukhuttamaṁ;
Uppajjateva ratanaṁ,
nibbattassa tahiṁ tahiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ phalamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā labujadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Labujadāyakattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.
Walt 3284 In the city, Bandhumatī,
I worked in a hermitage then.
I saw the Buddha, Spotless One,
who was traveling through the sky. Verse 1
Walt 3285 Taking fruit of a breadfruit tree
I gave it to the Best Buddha.
Standing in the sky, the Calm One,
the Great Famed One accepted it. Verse 2
Walt 3286-3287Having given Buddha that fruit,
with a mind that was very clear,
productive of delight for me,
bringing happiness in this world,
I then came to possess great joy
and vast, ultimate happiness.
A gem was truly produced for
me, being reborn here and there. Verse 3-4
Walt 3288 In the ninety-one aeons since
I gave the Buddha fruit back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of giving fruit. Verse 5
Walt 3289 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 6
Walt 3290 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 7
Walt 3291 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Labujaphaladāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Labujaphaladāyaka Thera is finished.
BJT 3284Tôi đã là người phụ việc chùa ở thành phố Bandhumatī. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đang di chuyển ở trên không trung.
BJT 3285Tôi đã cầm lấy trái cây bánh mì và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đã thọ nhận, trong khi đang đứng ở hư không.
BJT 3286Sau khi tôi đã dâng cúng trái cây đến đức Phật với tâm ý trong sạch, tôi có được sự sanh khởi niềm vui, (điều ấy là) nguồn đem lại sự an lạc trong thời hiện tại.
BJT 3287Khi ấy, tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc bao la và sự an lạc tối thượng. Còn có châu báu sanh lên (cho tôi) khi tôi được sanh ra nơi này nơi khác.
BJT 3288Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3289Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3290Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3291Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Labujadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Nagare bandhumatiyā,
āsiṁ ārāmiko tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
gacchantaṁ anilañjase.
Labujassa phalaṁ gayha,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ;
Ākāse ṭhitako santo,
paṭigaṇhi mahāyaso.
Vittisañjananaṁ mayhaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvahaṁ;
Phalaṁ buddhassa datvāna,
vippasannena cetasā.
Adhigacchiṁ tadā pītiṁ,
vipulañca sukhuttamaṁ;
Uppajjateva ratanaṁ,
nibbattassa tahiṁ tahiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ phalamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā labujadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Labujadāyakattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.