BJT 3341Ở trong khu rừng có nhiều loại hương thơm ở gần hồ nước Anotatta, ở trên mặt phẳng của tảng núi đá đáng yêu được lấp lánh bởi nhiều loại châu ngọc.
BJT 3342Được vây quanh bởi Hội Chúng tỳ khưu đông đảo, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, ngồi ở tại nơi ấy, đã giảng giải về các việc làm quá khứ của bản thân:
BJT 3343“Này các tỳ khưu, hãy lắng nghe Ta. Nghiệp nào đã được tạo ra bởi Ta, nếu là nghiệp vụn vặt thì cũng sẽ chín muồi cho dầu ở vào bản thể của vị Phật.
BJT 3344Trong những đời sống khác trước đây, Ta đã là kẻ vô lại tên Munāḷī. Ta đã vu cáo đức Phật Độc Giác Sarabhū, (Ngài là) vị không làm điều sái quấy.
BJT 3345Do quả thành tựu của nghiệp ấy, Ta đã luân hồi lâu dài ở địa ngục trong nhiều ngàn kiếp và đã nhận chịu cảm thọ khổ đau.
BJT 3346Do phần dư sót của nghiệp ấy, tại đây trong kiếp sống cuối cùng, Ta đã nhận lãnh sự vu cáo vì nguyên nhân của (nữ du sĩ ngoại đạo) Sundarikā.
BJT 3347Đức Phật Sabbābhibhū có vị Thinh Văn tên là Nanda. Do sự vu cáo vị (Thinh Văn) ấy, Ta đã luân hồi lâu dài ở địa ngục.
BJT 3348Ta đã luân hồi lâu dài ở địa ngục trong mười ngàn năm. Đạt được bản thể nhân loại, Ta đã nhận lãnh nhiều sự vu cáo.
BJT 3349Do phần dư sót của nghiệp ấy, nàng Ciñcamānavikā đã vu cáo Ta với sự không có thật ở trước đám đông dân chúng.
BJT 3350Ta đã là vị Bà-la-môn thông thái, được tôn vinh kính trọng. Ta đã chỉ dạy về chú thuật cho năm trăm người trai trẻ ở tại khu rừng lớn.
BJT 3351Vị ẩn sĩ Bhīma có năm thắng trí, có đại thần lực, đã đi đến nơi ấy. Và sau khi nhìn thấy vị ấy đi đến, Ta đã vu cáo vị không làm điều sái quấy.
BJT 3352Kế đó, Ta đã nói với các người học trò rằng: ‘Vị ẩn sĩ này có sự thọ hưởng dục lạc.’ Ngay trong khi Ta đang nói, các người trai trẻ đã vui thích theo.
BJT 3353Sau đó, tất cả các người trai trẻ, trong khi khất thực theo từng nhà, đã nói với đám đông dân chúng rằng: ‘Vị ẩn sĩ này có sự thọ hưởng dục lạc.’
BJT 3354Do quả thành tựu của nghiệp ấy, tất cả năm trăm vị tỳ khưu này đã gánh chịu sự vu cáo, vì nguyên nhân của (nữ du sĩ ngoại đạo) Sundarikā.
BJT 3355Trong thời quá khứ, vì nguyên nhân tài sản Ta đã giết chết người anh (em) trai khác mẹ (cùng cha). Ta đã xô vào hẻm núi hiểm trở và đã nghiền nát bằng tảng đá.
BJT 3356Do quả thành tựu của nghiệp ấy, Devadatta đã ném tảng đá và đã làm dập ngón cái ở bàn chân của Ta do mảnh vỡ của tảng đá.
BJT 3357Trước đây, Ta đã là đứa bé trai đang đùa giỡn ở con đường lớn. Sau khi nhìn thấy đức Phật Độc Giác, Ta đã ném đá vụn ở con đường (vào vị Phật ấy).
BJT 3358Do quả thành tựu của nghiệp ấy, tại đây trong kiếp sống cuối cùng, Devadatta đã bố trí các sát thủ nhằm mục đích giết hại Ta.
BJT 3359Trước đây, Ta đã là kẻ cỡi voi. (Nhìn thấy) bậc Hiền Trí Độc Giác tối thượng đang đi đó đây để khất thực, Ta đã dùng con voi công kích vị ấy.
BJT 3360Do quả thành tựu của nghiệp ấy, ở trong kinh thành Giribbaja con voi Nālāgirī quẩn trí hung hãn đã tiến gần đến Ta.
BJT 3361Ta đã là đức vua, người trị vì. Ta đã giết chết người đàn ông bằng cây thương. Do quả thành tựu của nghiệp ấy, Ta đã bị nung nấu ở địa ngục một cách dữ dội.
BJT 3362Do phần dư sót của nghiệp ấy, giờ đây toàn bộ lớp da ở bàn chân của Ta đã gây khó chịu, bởi vì nghiệp không bị tiêu hoại.
BJT 3363Ta đã là đứa trẻ đánh cá ở trong ngôi làng của các ngư phủ. Sau khi nhìn thấy các con cá bị giết chết, Ta đã sanh tâm vui mừng.
BJT 3364Do quả thành tựu của nghiệp ấy, đã có sự đau nhức ở đầu của Ta. Và khi Viḍūdabha nổi loạn, tất cả dòng tộc Sakya (Thích Ca) đã bị giết chết.
BJT 3365Vào thời Giáo Pháp của (đức Phật) Phussa, Ta đã quở mắng các vị Thinh Văn rằng: ‘Các ngươi hãy nhai, hãy ăn lúa mạch, và chớ có ăn cơm gạo sālī.’
BJT 3366Do quả thành tựu của nghiệp ấy, Ta đã (phải) ăn lúa mạch ba tháng. Khi ấy, được vị Bà-la-môn thỉnh mời, Ta đã cư ngụ ở Verañjā.
BJT 3367Khi cuộc đấu vật đang được diễn tiến, Ta đã đánh gục người con trai dòng Malla. Do quả thành tựu của nghiệp ấy, đã có sự đau nhức ở lưng của Ta.
BJT 3368Ta đã là người thầy thuốc. Ta đã cho người con trai nhà triệu phú thuốc xổ. Do quả thành tựu của nghiệp ấy, Ta có bệnh tiêu chảy.
BJT 3369Lúc bấy giờ, Ta đã là Jotipāla. Ta đã nói với đấng Thiện Thệ Kassapa rằng: ‘Giác Ngộ là sự đạt được vô cùng khó khăn, do đâu sự Giác Ngộ lại có cho kẻ cạo đầu?’
BJT 3370Do quả thành tựu của nghiệp ấy, Ta đã thực hành nhiều việc làm khó khăn trong sáu năm ở Uruvelā, sau đó Ta đã đạt được quả vị Giác Ngộ.
BJT 3371Ta đã không đạt được quả vị Giác Ngộ tối thượng bằng con đường (Trung Đạo) này. Bị ngăn cản bởi nghiệp quá khứ, Ta đã tầm cầu đạo lộ sai trái (khổ hạnh).
BJT 3372Ta có sự chấm dứt về phước và tội, Ta đã tránh xa mọi điều bực bội, Ta không sầu muộn, không đau buồn, Ta sẽ Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
BJT 3373Đấng Chiến Thắng, vị đã đạt được toàn bộ năng lực của các thắng trí, ở trước Hội Chúng tỳ khưu, tại hồ nước lớn Anotatta, đã giảng giải như thế.
Đức Thế Tôn đã nói về bài giảng Giáo Pháp tên Pubbakamma-pilotikađề cập đến hành động trong quá khứ của bản thân như thế ấy.
Ký sự về Phật Toàn Giác tên Pubbakammapilotika
là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Trái cây avaṇṭa, luôn cả trái bánh mì, trái sung, và trái pilakkha, trái cây phārusa, trái cây valli, và vị có trái chuối, trái mít, vị Koṭivīsa, và ký sự tên “Pubbakammapiloti” của bậc Đại Ẩn Sĩ; (tổng cộng) có chín mươi mốt câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Avaṇṭaphala là phẩm thứ ba mươi chín.
(Tụng phẩm thứ mười bốn).
Anotattasarāsanne,
ramaṇīye silātale;
Nānāratanapajjote,
nānāgandhavanantare.
Mahatā bhikkhusaṅghena,
pareto lokanāyako;
Āsīno byākarī tattha,
pubbakammāni attano.
“Suṇātha bhikkhavo mayhaṁ,
yaṁ kammaṁ pakataṁ mayā;
Pilotikassa kammassa,
buddhattepi vipaccati.
10.1
Munāḷi nāmahaṁ dhutto,
pubbe aññāsu jātisu;
Paccekabuddhaṁ surabhiṁ,
abbhācikkhiṁ adūsakaṁ.
Tena kammavipākena,
niraye saṁsariṁ ciraṁ;
Bahūvassasahassāni,
dukkhaṁ vedesi vedanaṁ.
Tena kammāvasesena,
idha pacchimake bhave;
Abbhakkhānaṁ mayā laddhaṁ,
sundarikāya kāraṇā.
10.2
Sabbābhibhussa buddhassa,
nando nāmāsi sāvako;
Taṁ abbhakkhāya niraye,
ciraṁ saṁsaritaṁ mayā.
Dasavassasahassāni,
niraye saṁsariṁ ciraṁ;
Manussabhāvaṁ laddhāhaṁ,
abbhakkhānaṁ bahuṁ labhiṁ.
Tena kammāvasesena,
ciñcamānavikā mamaṁ;
Abbhācikkhi abhūtena,
janakāyassa aggato.
10.3
Brāhmaṇo sutavā āsiṁ,
ahaṁ sakkatapūjito;
Mahāvane pañcasate,
mante vācemi māṇave.
Tatthāgato isi bhīmo,
pañcābhiñño mahiddhiko;
Tañcāhaṁ āgataṁ disvā,
abbhācikkhiṁ adūsakaṁ.
Tatohaṁ avacaṁ sisse,
kāmabhogī ayaṁ isi;
Mayhampi bhāsamānassa,
anumodiṁsu māṇavā.
Tato māṇavakā sabbe,
bhikkhamānaṁ kule kule;
Mahājanassa āhaṁsu,
kāmabhogī ayaṁ isi.
Tena kammavipākena,
pañca bhikkhusatā ime;
Abbhakkhānaṁ labhuṁ sabbe,
sundarikāya kāraṇā.
10.4
Vemātubhātaraṁ pubbe,
dhanahetu haniṁ ahaṁ;
Pakkhipiṁ giriduggasmiṁ,
silāya ca apiṁsayiṁ.
Tena kammavipākena,
devadatto silaṁ khipi;
Aṅguṭṭhaṁ piṁsayī pāde,
mama pāsāṇasakkharā.
10.5
Purehaṁ dārako hutvā,
kīḷamāno mahāpathe;
Paccekabuddhaṁ disvāna,
magge sakalikaṁ khipiṁ.
Tena kammavipākena,
idha pacchimake bhave;
Vadhatthaṁ maṁ devadatto,
abhimāre payojayi.
10.6
Hatthāroho pure āsiṁ,
paccekamunimuttamaṁ;
Piṇḍāya vicarantaṁ taṁ,
āsādesiṁ gajenahaṁ.
Tena kammavipākena,
bhanto nāḷāgirī gajo;
Giribbaje puravare,
dāruṇo samupāgami.
10.7
Rājāhaṁ patthivo āsiṁ,
sattiyā purisaṁ haniṁ;
Tena kammavipākena,
niraye paccisaṁ bhusaṁ.
Kammuno tassa sesena,
idāni sakalaṁ mama;
Pāde chaviṁ pakappesi,
na hi kammaṁ vinassati.
10.8
Ahaṁ kevaṭṭagāmasmiṁ,
ahuṁ kevaṭṭadārako;
Macchake ghātite disvā,
janayiṁ somanassakaṁ.
Tena kammavipākena,
sīsadukkhaṁ ahū mama;
Sabbe sakkā ca haññiṁsu,
yadā hani viṭaṭūbho.
10.9
Phussassāhaṁ pāvacane,
sāvake paribhāsayiṁ;
Yavaṁ khādatha bhuñjatha,
mā ca bhuñjatha sālayo.
Tena kammavipākena,
temāsaṁ khāditaṁ yavaṁ;
Nimantito brāhmaṇena,
verañjāyaṁ vasiṁ tadā.
10.10
Nibbuddhe vattamānamhi,
mallaputtaṁ niheṭhayiṁ;
Tena kammavipākena,
piṭṭhidukkhaṁ ahū mama.
10.11
Tikicchako ahaṁ āsiṁ,
seṭṭhiputtaṁ virecayiṁ;
Tena kammavipākena,
hoti pakkhandikā mama.
10.12
Avacāhaṁ jotipālo,
sugataṁ kassapaṁ tadā;
Kuto nu bodhi muṇḍassa,
bodhi paramadullabhā.
Tena kammavipākena,
acariṁ dukkaraṁ bahuṁ;
Chabbassānuruvelāyaṁ,
tato bodhimapāpuṇiṁ.
Nāhaṁ etena maggena,
pāpuṇiṁ bodhimuttamaṁ;
Kummaggena gavesissaṁ,
pubbakammena vārito.
Puññapāpaparikkhīṇo,
sabbasantāpavajjito;
Asoko anupāyāso,
nibbāyissamanāsavo”.
Evaṁ jino viyākāsi,
Bhikkhusaṅghassa aggato;
Sabbābhiññābalappatto,
Anotatte mahāsareti.
Itthaṁ sudaṁ bhagavā attano pubbacaritaṁ kammapilotikaṁ nāma buddhāpadānadhammapariyāyaṁ abhāsitthāti.
Pubbakammapilotikaṁ nāma buddhāpadānaṁ dasamaṁ.
Avaṭaphalavaggo ekūnacattālīsamo.
Tassuddānaṁ
Avaṭaṁ labujañceva,
udumbarapilakkhu ca;
Phāru vallī ca kadalī,
panaso koṭivīsako.
Pubbakammapiloti ca,
apadānaṁ mahesino;
Gāthāyo ekanavuti,
gaṇitāyo vibhāvibhi.
Cuddasamaṁ bhāṇavāraṁ.
Walt 3341 Near the lake called Anotatta,
on the lovely level rock ground,
where sparkled gems of different sorts
and varied perfumes filled the woods, Verse 1
Walt 3342 surrounded by the Assembly
of monks, the Leader of the World,
while seated there, did then explain
the former deeds done by himself: Verse 2
Walt 3343 Hear from me, O monks, the karma
which formerly was done by me,
and how those karma rags’ effects
ripen in the Buddha himself. Verse 3
Walt 3344 Among my other, former births
I was a jerk named Munāli.
I told lies about Sarabhu,
an innocent Lonely Buddha. Verse 4
Walt 3345 As a result of that karma,
a long time I circled through hell.
I experienced suffering
for numerous thousands of years. Verse 5
Walt 3346 As its final karmic effect,
here in my final existence,
I received some nasty slander
connected with Sundarīkā. Verse 6
Walt 3347 I was Nanda, a follower
of the Buddha Sabbābhibhu.
My transmigration was in hell
for long after I slandered him. Verse 7
Walt 3348 My long transmigration in hell
continued for ten thousand years.
When I again got human birth,
I also got lots of slander. Verse 8
Walt 3349 Through what remained of that karma,
Lady Ciñca did slander me
in front of a group of people
without any grounding in fact. Verse 9
Walt 3350 I was an erudite brahmin,
attended on, given worship.
In a large wood, I was teaching
mantras to five hundred young men. Verse 10
Walt 3351 To that place had come Sage Gīma,
who possessed vast superpowers.
After having seen him coming,
I slandered that blameless person. Verse 11
Walt 3352 I said this to my students then:
“this sage delights in the pleasures!”
The young men there took that to heart
when I made that declaration. Verse 12
Walt 3353 Then all the young men, my students,
begging for alms from clan to clan,
repeated to a lot of folks,
“this sage delights in the pleasures!” Verse 13
Walt 3354 As a result of that karma,
these five hundred monks now with me
all received some nasty slander
connected with Sundarīkā. Verse 14
Walt 3355 One time eying wealth I murdered
brothers by a second mother.
I put them on a mountain road
and crushed them in an avalanche. Verse 15
Walt 3356 As a result of that karma,
Devadatta threw a boulder
and a splinter off that boulder
then crushed the big toe on my foot. Verse 16
Walt 3357 One time I was a little boy,
playing by the great thoroughfare.
Having seen a Lonely Buddha,
I threw a clod of dirt at him. Verse 17
Walt 3358 As a result of that karma,
here in my final existence,
Devadatta hired some killers
for the sake of murdering me. Verse 18
Walt 3359 Once, while I was on my tusker,
I saw a supreme Lonely Sage,
wandering about for alms food—
with elephant I attacked him. Verse 19
Walt 3360 As a result of that karma,
the elephant Nāḷāgiri,
agitated, cruel, approached me
in the fine town at Vulture’s Peak. Verse 20
Walt 3361 I was the king, named Patthiva;
I killed a man with a dagger.
As a result of that karma,
I roasted in hell a long time. Verse 21
Walt 3362 Through what remained of that karma,
the skin on my foot got all cracked
and caused me a lot of trouble—
karma sure doesn’t just vanish! Verse 22
Walt 3363 I once lived as a fisher-boy,
in a village of fishermen.
Having seen the fish getting killed,
pleasurable thoughts filled my mind. Verse 23
Walt 3364 As a result of that karma,
I suffered a headache one time;
all of the Śākyans were murdered,
when Viḍuḍabha murdered them. Verse 24
Walt 3365 I reviled the holy words and
followers of Phussa Buddha,
“chomp and eat inferior grain
you all, and don’t eat any rice.” Verse 25
Walt 3366 As a result of that karma,
I had to eat grain for three months
when, invited by a brahmin,
I lived in various kingdoms. Verse 26
Walt 3367 In the midst of a wrestling match,
a wrestler’s son, I blocked the fight;
as a result of that karma,
one time I suffered a backache. Verse 27
Walt 3368 I was a practicing doctor
and purged the son of a rich man;
as a result of that karma,
I contracted dysentery. Verse 28
Walt 3369 One time I, Jotipāla, said
to Kassapa, the Well-Gone-One,
“Whence then this baldy’s Waking Up,
Awakening so hard to reach?” Verse 29
Walt 3370 As a result of that karma,
I practiced great austerities
in Uruvela, six long years,
and then achieved Awakening. Verse 30
Walt 3371-72“Along that path I did not reach
supreme Awakening,” I thought,
“along which path then should I search,
hindered by previous karma?
Exhausting good and bad karma
and avoiding every torment
free of grief, troubles and outflows,
I shall realize nirvana.” Verse 31-32
Walt 3373 Thus did he explain, the Victor,
Endowed with All Superpowers,
in front of the monks’ Assembly,
at the great Lake Anotatta. Verse 33
Thus indeed the Blessed One spoke this short discourse on dharma revealing his own previous conduct, the Buddha-apadāna named “The Rags of Previous Karma”.
The Buddha-apadāna named “The Rags of Previous Karma” is finished.
The Summary:
Avaṇṭa and Labuja too,
Udumbara and Pilakkhu,
Phāru, Valli and Kadali,
Panasa, Koṭivīsaka
and the Rags of Former Karma,
the legend of the Sage so Great:
verses numbering ninety-one
are counted by those who are wise.
The Avaṇṭaphala Chapter, the Thirty-Ninth