BJT 1091Lúc bấy giờ, tôi đã là vị đạo sĩ khổ hạnh ở không xa núi Hi-mã-lạp. Tôi sống bằng củ tỏi, củ tỏi là thực phẩm của tôi.
BJT 1092Tôi đã chất (tỏi) đầy các túi xách rồi đã đi đến tu viện dành cho Hội Chúng. Được mừng rỡ, tôi đã dâng cúng củ tỏi đến Hội Chúng với tâm mừng rỡ.
BJT 1093Sau khi dâng cúng củ tỏi đến Hội Chúng đã được thỏa thích trong Giáo Pháp của bậc Tối Thượng Nhân Vipassī, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.
BJT 1094Kể từ khi tôi đã dâng cúng củ tỏi trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của các củ tỏi.
BJT 1095Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Lasuṇadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Lasuṇadāyaka là phần thứ bảy.
“Himavantassāvidūre,
tāpaso āsahaṁ tadā;
Lasuṇaṁ upajīvāmi,
lasuṇaṁ mayhabhojanaṁ.
Khāriyo pūrayitvāna,
saṅghārāmamagacchahaṁ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
saṅghassa lasuṇaṁ adaṁ.
Vipassissa naraggassa,
sāsane niratassahaṁ;
Saṅghassa lasuṇaṁ datvā,
kappaṁ saggamhi modahaṁ.
Ekanavutito kappe,
lasuṇaṁ yamadaṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
lasuṇassa idaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā lasuṇadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Lasuṇadāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 1091 I was an ascetic back then
not far from the Himalayas.
I sustained myself on garlic;
garlic was then my only food. Verse 1
Walt 1092 After filling some khāriyas
I went to a monastery.
I gave the Assembly garlic,
happy, and with a happy heart. Verse 2
Walt 1093 Giving the Assembly garlic,
intent on the dispensation
of Vipassi, the Top Person,
I then delighted in heaven. Verse 3
Walt 1094 In the ninety-one aeons since
I gave them that garlic back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of cloves of garlic. Verse 4
Walt 1095 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 5
Thus indeed Venerable Lasuṇadāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Lasuṇadāyaka Thera is finished.
BJT 1091Lúc bấy giờ, tôi đã là vị đạo sĩ khổ hạnh ở không xa núi Hi-mã-lạp. Tôi sống bằng củ tỏi, củ tỏi là thực phẩm của tôi.
BJT 1092Tôi đã chất (tỏi) đầy các túi xách rồi đã đi đến tu viện dành cho Hội Chúng. Được mừng rỡ, tôi đã dâng cúng củ tỏi đến Hội Chúng với tâm mừng rỡ.
BJT 1093Sau khi dâng cúng củ tỏi đến Hội Chúng đã được thỏa thích trong Giáo Pháp của bậc Tối Thượng Nhân Vipassī, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.
BJT 1094Kể từ khi tôi đã dâng cúng củ tỏi trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của các củ tỏi.
BJT 1095Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Lasuṇadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Lasuṇadāyaka là phần thứ bảy.
“Himavantassāvidūre,
tāpaso āsahaṁ tadā;
Lasuṇaṁ upajīvāmi,
lasuṇaṁ mayhabhojanaṁ.
Khāriyo pūrayitvāna,
saṅghārāmamagacchahaṁ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
saṅghassa lasuṇaṁ adaṁ.
Vipassissa naraggassa,
sāsane niratassahaṁ;
Saṅghassa lasuṇaṁ datvā,
kappaṁ saggamhi modahaṁ.
Ekanavutito kappe,
lasuṇaṁ yamadaṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
lasuṇassa idaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā lasuṇadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Lasuṇadāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.