BJT 1566Tôi bị lâm vào cảnh vô cùng khốn khổ và bị xâm nhập bởi mùi hôi thối. Tôi đã dâng cúng một nửa mảnh vải đến đức Thế Tôn Tissa.
BJT 1567Sau khi dâng cúng một nửa mảnh vải, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp. Trong những kiếp còn lại, việc tốt lành đã được tôi cho thực hiện.
BJT 1568Kể từ khi tôi đã dâng cúng mảnh vải trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng mảnh vải.
BJT 1569(Trước đây) bốn mươi chín kiếp, ba mươi hai vị thống lãnh dân chúng tên Samantacchadana đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 1570Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Aḍḍhacelakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Tissassāhaṁ bhagavato,
upaḍḍhadussamadāsahaṁ;
Paramakāpaññapattomhi,
duggatena samappito.
Upaḍḍhadussaṁ datvāna,
kappaṁ saggamhi modahaṁ;
Avasesesu kappesu,
kusalaṁ kāritaṁ mayā.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ dussamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
dussadānassidaṁ phalaṁ.
Ekūnapaññāsakappamhi,
rājāno cakkavattino;
Samantacchadanā nāma,
bāttiṁsāsuṁ janādhipā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā aḍḍhaceḷako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Aḍḍhaceḷakattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.
Walt 1566 I gave a half a piece of cloth
to Tissa, the Blessed One then.
I was extremely miserable,
and plagued with an awful odor. Verse 1
Walt 1567 Giving that half a cloth I thrilled
in heaven for a whole aeon.
During the aeons that remained
I completed that good karma. Verse 2
Walt 1568 In the ninety-two aeons since
I donated that cloth back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of giving cloth. Verse 3
Walt 1569 In the forty-ninth aeon hence
there were thirty-two lords of men,
kings who turned the wheel of the law
known as Samanta-Odanā. Verse 4
Walt 1570 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 5
Thus indeed Venerable Aḍḍhacelaka Thera spoke these verses.
The legend of Aḍḍhacelaka Thera is finished.
BJT 1566Tôi bị lâm vào cảnh vô cùng khốn khổ và bị xâm nhập bởi mùi hôi thối. Tôi đã dâng cúng một nửa mảnh vải đến đức Thế Tôn Tissa.
BJT 1567Sau khi dâng cúng một nửa mảnh vải, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp. Trong những kiếp còn lại, việc tốt lành đã được tôi cho thực hiện.
BJT 1568Kể từ khi tôi đã dâng cúng mảnh vải trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng mảnh vải.
BJT 1569(Trước đây) bốn mươi chín kiếp, ba mươi hai vị thống lãnh dân chúng tên Samantacchadana đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 1570Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Aḍḍhacelakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Tissassāhaṁ bhagavato,
upaḍḍhadussamadāsahaṁ;
Paramakāpaññapattomhi,
duggatena samappito.
Upaḍḍhadussaṁ datvāna,
kappaṁ saggamhi modahaṁ;
Avasesesu kappesu,
kusalaṁ kāritaṁ mayā.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ dussamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
dussadānassidaṁ phalaṁ.
Ekūnapaññāsakappamhi,
rājāno cakkavattino;
Samantacchadanā nāma,
bāttiṁsāsuṁ janādhipā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā aḍḍhaceḷako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Aḍḍhaceḷakattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.