BJT 71Ở thành phố Aruṇavatī, có vị Sát-đế-lỵ tên là Aruṇavā. Tôi đã là người vợ của vị vua ấy. Tôi (thường) bảo (người) đưa tôi đi đó đây.
BJT 72Sau khi nhận được bảy đóa sen xanh có hương thơm của cõi trời, tôi đã ngồi xuống ở nơi cao quý của tòa lâu đài, và ngay khi ấy đã suy nghĩ như vầy:
BJT 73“Với bảy đóa hoa này được gắn ở đầu của ta thì ta có được gì? Điều cao quý đối với ta là được vươn đến trí tuệ của đức Phật tối thượng.”
BJT 74Trong lúc chờ đợi đấng Toàn Giác, tôi đã ngồi xuống ở gần cánh cửa lớn (nghĩ rằng): “Khi nào đấng Toàn Giác ngự đến, ta sẽ cúng dường đến bậc Đại Hiền Trí.”
BJT 75Nổi bật, chói sáng, y như con sư tử là vua của các thú rừng, đấng Chiến Thắng được tháp tùng bởi Hội Chúng tỳ khưu đã đi đến ở trên đường lộ.
BJT 76Sau khi nhìn thấy hào quang của đức Phật, tôi đã trở nên mừng rỡ, có tâm ý phấn khởi. Tôi đã mở cửa ra và đã cúng dường đến đức Phật tối thượng.
BJT 77Bảy đóa hoa sen xanh đã được phân tán ra ở trên không trung. Chúng tạo thành hình mái che và nằm yên ở trên đỉnh đầu của đức Phật.
BJT 78Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, tràn đầy niềm phấn khởi, tôi đã chắp tay lên. Sau khi làm cho tâm được tịnh tín vào điều ấy, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 79Chúng hình thành tấm che màu xanh thẩm ở trên đầu của tôi, tôi tỏa ra hương thơm của cõi trời; điều này là quả báu của bảy đóa sen xanh.
BJT 80Lúc bấy giờ, vào một lần nào đó trong khi tôi được tập thể quyến thuộc dẫn đi, hết thảy nhóm người của tôi đều được khoác lên (một) màu xanh thẩm.
BJT 81Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của bảy mươi vị Thiên Vương. Sau khi trở thành vị nữ hoàng ở khắp mọi nơi, tôi (đã) luân hồi ở cõi này cõi khác.
BJT 82Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của sáu mươi ba đấng Chuyển Luân Vương. Tất cả đều thuận theo tôi, tôi đã có lời nói hợp lý.
BJT 83Màu da của tôi chính là (màu) của hoa sen xanh và còn tỏa ra hương thơm nữa. Tôi không biết đến làn da xấu xí; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 84Được thiện xảo về các nền tảng của phép thần thông, được thích thú trong việc tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ, được thành tựu các thắng trí và các pháp toàn hảo; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 85Được thiện xảo trong các sự thiết lập về niệm, có các hành xứ về thiền định, được gắn bó với các sự nỗ lực đúng đắn; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 86Tôi có sự tinh tấn, có khả năng tiến hành các phận sự là điều kiện đưa đến sự an ổn khỏi các điều ràng buộc, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 87Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đâyba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng bông hoa.
BJT 88Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 89Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 90Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Sattuppalamālikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Sattuppalamālikā là phần thứ tám.
“Nagare aruṇavatiyā,
aruṇo nāma khattiyo;
Tassa rañño ahuṁ bhariyā,
vāritaṁ vārayāmahaṁ.
Satta mālā gahetvāna,
uppalā devagandhikā;
Nisajja pāsādavare,
evaṁ cintesi tāvade.
‘Kiṁ me imāhi mālāhi,
sirasāropitāhi me;
Varaṁ me buddhaseṭṭhassa,
ñāṇamhi abhiropitaṁ’.
Sambuddhaṁ paṭimānentī,
dvārāsanne nisīdahaṁ;
‘Yadā ehiti sambuddho,
pūjayissaṁ mahāmuniṁ’.
Kakudho vilasantova,
migarājāva kesarī;
Bhikkhusaṅghena sahito,
āgacchi vīthiyā jino.
Buddhassa raṁsiṁ disvāna,
haṭṭhā saṁviggamānasā;
Dvāraṁ avāpuritvāna,
buddhaseṭṭhamapūjayiṁ.
Satta uppalapupphāni,
parikiṇṇāni ambare;
Chadiṁ karonto buddhassa,
matthake dhārayanti te.
Udaggacittā sumanā,
vedajātā katañjalī;
Tattha cittaṁ pasādetvā,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Mahānelassa chādanaṁ,
dhārenti mama muddhani;
Dibbagandhaṁ pavāyāmi,
sattuppalassidaṁ phalaṁ.
Kadāci nīyamānāya,
ñātisaṅghena me tadā;
Yāvatā parisā mayhaṁ,
mahānelaṁ dharīyati.
Sattatidevarājūnaṁ,
mahesittamakārayiṁ;
Sabbattha issarā hutvā,
saṁsarāmi bhavābhave.
Tesaṭṭhi cakkavattīnaṁ,
mahesittamakārayiṁ;
Sabbe mamanuvattanti,
ādeyyavacanā ahuṁ.
Uppalasseva me vaṇṇo,
gandho ceva pavāyati;
Dubbaṇṇiyaṁ na jānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Iddhipādesu kusalā,
bojjhaṅgabhāvanāratā;
Abhiññāpāramippattā,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Satipaṭṭhānakusalā,
samādhijhānagocarā;
Sammappadhānamanuyuttā,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Vīriyaṁ me dhuradhorayhaṁ,
yogakkhemādhivāhanaṁ;
Sabbāsavā parikkhīṇā,
natthi dāni punabbhavo.
Ekatiṁse ito kappe,
yaṁ pupphamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ sattuppalamālikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sattuppalamālikātheriyāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.
Walt 71 In Aruṇavatī City,
lived a king named Aruṇavā.
I was then the wife of that king,
sent out by him on a journey. Verse 1
Walt 72 Having taken seven flowers,
divinely perfumed blue lotus,
lying down in that fine palace,
I reflected in this way then: Verse 2
Walt 73 “What use are these flowers to me,
planted on the top of my head?
They’ll be better for me offered
to the Best Buddha’s great knowledge. Verse 3
Walt 74 They’re honoring the Sambuddha;
Sitting near the palace doorway,
when the Sambuddha arrives here,
I too will worship the Great Sage.” Verse 4
Walt 75 Splendid like an arjuna tree,
like a lion, the king of beasts,
along with the monks’ Assembly,
the Victor then came on the road. Verse 5
Walt 76 After seeing the Buddha’s rays,
happy, with a mind that was moved,
having opened up the door, I
then worshipped the Best of Buddhas. Verse 6
Walt 77 I scattered up in the sky there
those seven blue lotus flowers.
Then covering the Buddha’s head,
they were held up there in the sky. Verse 7
Walt 78 Thrilled at heart, with a happy mind,
awe-struck, with hands pressed together,
bringing pleasure to my heart there,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 8
Walt 79 Blue lotus-flower canopies
are carried on top of my head.
I then exude divine perfumes:
the fruit of seven lotuses. Verse 9
Walt 80 Whenever I am sent somewhere
with my assembly of kinsfolk,
blue lotuses are carried then
over my entire retinue. Verse 10
Walt 81 I was fixed in the chief queen’s place
of seventy kings of the gods.
Everywhere a female ruler,
I transmigrated birth to birth. Verse 11
Walt 82 I was fixed in the chief queen’s place
of sixty-three wheel-turning kings.
They all conform to my wishes;
I’m one whose words are listened to. Verse 12
Walt 83 My color and exuded scent
are those of blue lotus flowers;
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 13
Walt 84 Skillful in the superpowers,
fond of wisdom’s parts as focus,
special knowledges perfected:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 14
Walt 85 Skilled in retaining mindfulness,
pastured in calm-meditation,
undertaking fit exertion:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 15
Walt 86 My effort bearing the burden
brought me release from attachments;
defilements are all destroyed,
now there will be no more rebirth. Verse 16
Walt 87 In the thirty-one aeons since
I worshipped him with that flower,
I’ve come to know no bad rebirth;
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 17
Walt 88 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 18
Walt 89 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 19
Walt 90 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 20
Thus indeed Bhikkhunī Sattuppalamālikāya spoke these verses.
The legend of Sattuppalamālikāya Therī is finished.