BJT 1Khi ấy, đức vua Milinda, với sự đã được cho phép, đã cúi xuống ở hai bàn chân của vị thầy, rồi đã chắp tay lên ở đầu, và nói điều này: “Thưa ngài Nāgasena, các giáo chủ tà giáo này nói như vầy: ‘Nếu đức Phật ưng thuận sự cúng dường thì đức Phật chưa đạt Niết Bàn, còn bị gắn bó với đời, còn ở trong đời, còn chung chạ với đời. Vì thế hành động hướng thượng được làm đến Ngài là vô ích, không có quả báu. Nếu đã đạt Niết Bàn thì Ngài không còn gắn bó với đời, đã tách rời khỏi tất cả các hữu, sự cúng dường đến Ngài không phát sanh nữa. Người đã đạt Niết Bàn không ưng thuận điều gì. Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu.’ Câu hỏi này có cả hai khía cạnh. Lãnh vực này không dành cho những kẻ có tâm trí chưa đạt, lãnh vực này chỉ dành cho những bậc vĩ đại. Xin ngài hãy phá vỡ mạng lưới tà kiến này. Xin ngài hãy xác định về điều chắc thật. Câu hỏi này được dành cho ngài. Xin ngài hãy ban cho sự nhận thức đến những người con của đấng Chiến Thắng trong ngày vị lai để phản bác lại các học thuyết khác.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt Niết Bàn, và đức Thế Tôn không ưng thuận sự cúng dường. Ngay tại cội cây Bồ Đề, sự ưng thuận của đức Như Lai đã được dứt bỏ, vậy thì còn điều gì nữa đối với vị đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót? Tâu đại vương, điều này cũng đã được vị trưởng lão Tướng Quân Chánh Pháp Sāriputtena nói đến:
Các bậc tương tương với đấng Vô Song, trong khi được cúng dường bởi chư Thiên và nhân loại, các vị ấy không ưng thuận sự tôn vinh; điều ấy là lẽ tự nhiên của chư Phật.”
BJT 2Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, con nói lời ca ngợi cha, cha nói lời khen ngợi con, điều này không phải là lý do để phản bác lại các học thuyết khác. Điều này gọi là lời tuyên bố về niềm tin. Vậy xin ngài hãy nói rõ ràng cho trẫm lý do về trường hợp ấy nhằm thiết lập học thuyết của mình và nhằm việc tháo tung mạng lưới tà kiến.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt Niết Bàn, và đức Thế Tôn không ưng thuận sự cúng dường. Chư Thiên và nhân loại, trong khi thực hiện nền đất cho báu vật xá-lợi của đức Như Lai dẫu cho Ngài không ưng thuận và trong khi đeo đuổi pháp hành đúng đắn với đề mục là báu vật trí tuệ của đức Như Lai, vẫn đạt được ba sự thành tựu. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn bốc cháy rồi tắt ngấm, tâu đại vương phải chăng khối lửa ấy cũng ưng thuận việc bám víu vào cỏ và củi?”
“Thưa ngài, ngay cả trong khi đang cháy, khối lửa lớn ấy cũng không ưng thuận việc bám víu vào cỏ và củi, vậy thì việc gì lại ưng thuận khi đã tắt ngấm, được yên lặng, không còn tâm thức?”
“Tâu đại vương, phải chăng khi khối lửa lớn ấy đã ngừng nghỉ, được yên lặng, thì không còn ngọn lửa ở thế gian?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, củi là nền tảng, là sự bám víu của ngọn lửa. Thưa ngài, bất cứ những người nào có ước muốn về lửa, những người ấy xoay tròn nhánh củi bằng thể lực, sức mạnh, và sự nỗ lực của bản thân, do việc làm của mỗi cá nhân thì làm phát sanh ngọn lửa, rồi với ngọn lửa ấy làm các công việc được làm bởi ngọn lửa.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy lời nói của các giáo chủ tà giáo: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu’ là sai trái. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đã bốc cháy, tương tợ y như thế đức Thế Tôn đã bốc cháy với vẻ rực rỡ của vị Phật trong mười ngàn thế giới. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn bốc cháy rồi tắt ngấm, tương tợ y như thế đức Thế Tôn sau khi bốc cháy với vẻ rực rỡ của vị Phật trong mười ngàn thế giới rồi đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đã tắt ngấm thì không còn ưng thuận việc bám víu vào cỏ và củi, tương tợ y như thế sự ưng thuận của đấng Phúc Lợi Thế Gian là đã được dứt bỏ, được yên lặng. Tâu đại vương, giống như khi khối lửa đã tắt ngấm, không còn bám víu, những người xoay tròn nhánh củi bằng thể lực, sức mạnh, và sự nỗ lực của bản thân, do việc làm của mỗi cá nhân thì làm phát sanh ngọn lửa, rồi với ngọn lửa ấy làm các công việc được làm bởi ngọn lửa, tương tợ y như thế chư Thiên và nhân loại sau khi thực hiện nền đất cho báu vật xá-lợi của đức Như Lai dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, và trong khi đeo đuổi pháp hành đúng đắn với đề mục là báu vật trí tuệ của đức Như Lai, vẫn đạt được ba sự thành tựu. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.”
BJT 3“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn thổi qua rồi ngừng nghỉ, tâu đại vương phải chăng cơn gió đã ngừng nghỉ ấy cũng ưng thuận việc sanh lên lần nữa?”
“Thưa ngài, cơn gió đã ngừng nghỉ hẵn không có tư tưởng hoặc tác ý cho việc sanh lên lần nữa. Vì lý do gì? Bản chất của gió ấy là không có suy tư.”
“Tâu đại vương, phải chăng có việc nhận biết về ‘cơn gió’ khi cơn gió ấy đã ngừng nghỉ?”
“Thưa ngài, không có. Cành lá thốt nốt và cây quạt là điều kiện để tạo ra cơn gió. Những người nào bị bực bội bởi sức nóng, bị hành hạ bởi sự đốt nóng, những người ấy bằng thể lực, sức mạnh, và sự nỗ lực của bản thân, do việc làm của mỗi cá nhân thì làm phát sanh lên cơn gió với cành lá thốt nốt hoặc với cây quạt rồi làm dập tắt sự nóng nực, làm dịu đi sự đốt nóng.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy lời nói của các giáo chủ tà giáo: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu’ là sai trái. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn đã thổi qua, tương tợ y như thế đức Thế Tôn đã thổi đến cơn gió mát mẻ, ngọt ngào, êm dịu, và từ ái ở mười ngàn thế giới. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn thổi qua rồi ngừng nghỉ, tương tợ y như thế đức Thế Tôn sau khi thổi đến cơn gió mát mẻ, ngọt ngào, êm dịu, và từ ái rồi đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn đã ngừng nghỉ thì không còn ưng thuận việc sanh lên lần nữa, tương tợ y như thế sự ưng thuận của đấng Phúc Lợi Thế Gian là đã được dứt bỏ, được yên lặng. Tâu đại vương, giống như những người ấy bị bực bội bởi sức nóng, bị hành hạ bởi sự đốt nóng, tương tợ y như thế chư Thiên và nhân loại bị hành hạ bởi sức nóng bởi sự đốt nóng của ngọn lửa gồm ba loại (tham sân si). Giống như cành lá thốt nốt và cây quạt là điều kiện để tạo ra cơn gió, tương tợ y như thế xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai là điều kiện cho việc đạt được ba sự thành tựu. Giống như những người bị bực bội bởi sức nóng, bị hành hạ bởi sự đốt nóng thì làm phát sanh lên cơn gió với cành lá thốt nốt hoặc với cây quạt rồi làm tắt ngấm sự nóng nực, làm dịu đi sự đốt nóng, tương tợ y như thế chư Thiên và nhân loại sau khi cúng dường xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, sau khi làm phát sanh pháp thiện, với pháp thiện ấy làm tắt ngấm, làm dịu sự nóng nực và sự đốt nóng của ngọn lửa gồm ba loại. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.
BJT 4Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa để phản bác lại các học thuyết khác. Tâu đại vương, giống như người đàn ông sau khi vỗ vào cái trống thì tạo ra âm thanh; âm thanh nào của cái trống đã được tạo ra bởi người đàn ông thì âm thanh ấy sẽ biến mất. Tâu đại vương, phải chăng âm thanh ấy cũng ưng thuận việc tạo ra lần nữa?”
“Thưa ngài, không đúng. Âm thanh ấy đã biến mất, nó không có tư tưởng hoặc tác ý cho việc sanh lên lần nữa. Khi âm thanh của cái trống đã được tạo ra một lần rồi biến mất, âm thanh của cái trống ấy được chấm dứt. Thưa ngài, tuy nhiên cái trống là điều kiện cho việc tạo ra âm thanh. Và người đàn ông khi có điều kiện vỗ vào cái trống bằng sự nỗ lực của chính mình thì tạo ra âm thanh.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn, sau khi xác lập báu vật xá-lợi, cùng với Pháp, Luật, và lời giáo huấn đã được phát triển toàn vẹn nhờ vào Giới-Định-Tuệ-Giải Thoát-Trí Tuệ và Nhận Thức về sự Giải Thoát chính là bậc Đạo Sư, rồi đã tự mình Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Và không phải khi đức Thế Tôn đã Viên Tịch Niết Bàn thì việc đạt được các sự thành tựu là bị gián đoạn. Các chúng sanh bị hành hạ bởi khổ đau ở sự hiện hữu, sau khi sử dụng báu vật xá-lợi, Pháp, Luật, và lời giáo huấn làm điều kiện, rồi có ước muốn về sự thành tựu thì đạt được các sự thành tựu. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn, không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.
Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã nhìn thấy, đã thuyết giảng, đã nói lên, đã phát biểu về điều ấy cho thời vị lai xa xôi rằng: ‘Này Ānanda, nếu các ngươi khởi ý như vầy: Có lời dạy của đấng Đạo Sư trong quá khứ, còn (hiện nay) chúng ta không có bậc Đạo Sư. Này Ānanda, điều này không nên được nhận thức như thế. Này Ānanda, Pháp và Luật nào đã được thuyết giảng, đã được quy định bởi Ta, Pháp và Luật ấy, sau khi Ta tịch diệt, là bậc Đạo Sư của các ngươi.’ Về lời nói ấy của các giáo chủ tà giáo ấy rằng: ‘Đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là vô ích, không có quả báu’ là sai trái, không là sự thật, lìa sự chân thật, không đúng, là mâu thuẫn, là sai lệch, tạo sự khổ đau, có kết quả khổ đau, dẫn đến địa ngục.”
BJT 5“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, phải chăng đại địa cầu này ưng thuận rằng: ‘Tất cả hạt giống hãy mọc lên ở nơi ta’?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao các hạt giống ấy, trong khi đại địa cầu không ưng thuận, lại mọc lên, tạo lập chùm rễ vững chãi, có thân cây, lõi cây, và cành cây tỏa rộng xung quanh, có mang hoa và quả?”
“Thưa ngài, mặc dầu không ưng thuận đại địa cầu vẫn là nền tảng và tạo điều kiện cho sự phát triển của các hột giống ấy. Các hột giống ấy nương vào nền tảng ấy, nhờ vào điều kiện ấy mọc lên, tạo lập chùm rễ vững chãi, có thân cây, lõi cây, và cành cây tỏa rộng xung quanh, có mang hoa và quả.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy các giáo chủ tà giáo đã bị hư hoại, bị thất bại, bị mâu thuẫn ở lời nói của họ nếu họ nói rằng: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu.’ Tâu đại vương, đại địa cầu như thế nào, thì đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri như thế ấy. Tâu đại vương, đại địa cầu không ưng thuận bất cứ điều gì như thế nào, thì đức Như Lai không ưng thuận bất cứ điều gì như thế ấy. Tâu đại vương, các hột giống ấy nương vào trái đất mọc lên, tạo lập chùm rễ vững chãi, có thân cây, lõi cây, và cành cây tỏa rộng xung quanh, có mang hoa và quả như thế nào, thì chư Thiên và nhân loại nương vào xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, rồi tạo lập nền tảng vững chãi về pháp thiện, có thân cây là định, lõi cây là Pháp, và cành cây là giới tỏa rộng xung quanh, có mang hoa là sự giải thoát và quả là bản thể Sa-môn như thế ấy. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.”
BJT 6“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, phải chăng các con lạc đà, các con bò, các con lừa, các con dê, các con thú, các con người này ưng thuận sự hiện hữu của các dòng họ giun sán ở trong bụng?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao trong khi chúng không ưng thuận mà các con giun sán ấy lại hiện hữu và vô số con cháu lại đạt được sự phát triển ở trong bụng của chúng?”
“Thưa ngài, do năng lực của nghiệp ác mà các con con giun sán ấy hiện hữu và vô số con cháu đạt được sự phát triển ở trong bụng của các chúng sanh ấy mặc dầu chúng không ưng thuận.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do năng lực của xá-lợi và báu vật trí tuệ, dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai là không vô ích, có quả báu.”
BJT 7“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, phải chăng các con người này ưng thuận rằng: ‘Chín mươi tám loại bệnh này hãy sanh lên ở thân thể’?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao các loại bệnh ấy lại giáng xuống thân thể của những người không ưng thuận?”
“Thưa ngài, do ác hạnh đã làm ở thời quá khứ.”
“Tâu đại vương, nếu điều bất thiện đã làm ở thời quá khứ có thể được cảm thọ ở đây, tâu đại vương, chính vì điều ấy nghiệp thiện hoặc bất thiện đã làm ở thời quá khứ cũng như đã làm ở đây là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.”
BJT 8“Tâu đại vương, hơn nữa đại vương có được nghe trước đây rằng Dạ-xoa tên Nandaka sau khi công kích vị trưởng lão Sāriputta đã bị rơi vào trong trái đất?”
“Thưa ngài, đúng vậy, có được nghe. Điều ấy là rõ rệt ở thế gian.”
“Tâu đại vương, phải chăng trưởng lão Sāriputta đã ưng thuận việc nuốt vào của trái đất đối với Dạ-xoa Nandaka?”
“Thưa ngài, ngay cả khi thế gian có cả chư Thiên đang bị vỡ ra, ngay cả khi mặt trăng và mặt trời đang bị rơi xuống ở mặt đất, ngay cả khi núi chúa Sineru đang bị vỡ tung tóe, trưởng lão Sāriputta cũng không ưng thuận sự khổ đau của người khác. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Do nhân nào mà trưởng lão Sāriputta có thể nổi giận hoặc sân hận, nhân ấy đối với trưởng lão Sāriputta đã được nhổ bỏ, đã được trừ tuyệt. Thưa ngài, do tính chất đã được nhổ bỏ của nhân mà trưởng lão Sāriputta không thể nào giận dữ dầu có liên quan đến việc bị tước đoạt mạng sống.”
“Tâu đại vương, nếu trưởng lão Sāriputta đã không ưng thuận việc nuốt vào của trái đất đối với Dạ-xoa Nandaka, vậy thì tại sao Dạ-xoa Nandaka lại rơi vào trong trái đất?”
“Thưa ngài, do năng lực của nghiệp bất thiện.”
“Tâu đại vương, nếu do năng lực của nghiệp bất thiện mà Dạ-xoa Nandaka rơi vào trong trái đất, thì sự xúc phạm đã làm đến người dầu là không ưng thuận cũng là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, chính vì điều ấy do năng lực của nghiệp thiện, ‘hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là không vô ích, có quả báu.’
Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.
BJT 9Tâu đại vương, vào thời bấy giờ những người đã rơi vào trong trái đất là bao nhiêu? Đại vương có được nghe về trường hợp ấy không?”
“Thưa ngài, đúng vậy, có được nghe.”
“Tâu đại vương, vậy xin đại vương hãy cho nghe với.”
“Thưa ngài, là ‘thiếu nữ Ciñcā, Suppabuddha dòng Sakya, trưởng lão Devadatta, Dạ-xoa Nandaka, và thanh niên Nanda.’ Thưa ngài, điều này trẫm đã được nghe, năm người này đã rơi vào trong trái đất.”
“Tâu đại vương, những người ấy đã xúc phạm đến ai?”
“Thưa ngài, đến đức Thế Tôn và các vị Thinh Văn.”
“Tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn hay các vị Thinh Văn đã ưng thuận việc hút vào của trái đất đối với những người này?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi thâm sâu đã khéo được giảng giải, đã được làm rõ, điều bí mật đã được phơi bày, nút thắt đã được mở ra, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, lời tuyên thuyết của ngoại đạo đã bị hư hoại, quan điểm xấu đã bị đổ vỡ, các giáo chủ tà giáo đã không còn hào quang phát sanh, ngài đã tiến đến vị thế cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng.”
Câu hỏi về việc không thọ nhận cúng dường là thứ nhất.
Atha kho milindo rājā katāvakāso nipacca garuno pāde sirasi añjaliṁ katvā etadavoca—
“bhante nāgasena, ime titthiyā evaṁ bhaṇanti—
‘yadi buddho pūjaṁ sādiyati, na parinibbuto buddho saṁyutto lokena antobhaviko lokasmiṁ lokasādhāraṇo, tasmā tassa kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Yadi parinibbuto visaṁyutto lokena nissaṭo sabbabhavehi, tassa pūjā nuppajjati, parinibbuto na kiñci sādiyati, asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphalo’ti ubhato koṭiko eso pañho, neso visayo appattamānasānaṁ, mahantānaṁ yeveso visayo, bhindetaṁ diṭṭhijālaṁ ekaṁse ṭhapaya, taveso pañho anuppatto, anāgatānaṁ jinaputtānaṁ cakkhuṁ dehi paravādaniggahāyā”ti.
Thero āha—
“parinibbuto, mahārāja, bhagavā, na ca bhagavā pūjaṁ sādiyati, bodhimūleyeva tathāgatassa sādiyanā pahīnā, kiṁ pana anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbutassa.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Pūjiyantā asamasamā,
sadevamānusehi te;
Na sādiyanti sakkāraṁ,
buddhānaṁ esa dhammatā’”ti.
Rājā āha—
“bhante nāgasena, putto vā pituno vaṇṇaṁ bhāsati, pitā vā puttassa vaṇṇaṁ bhāsati, na cetaṁ kāraṇaṁ paravādānaṁ niggahāya, pasādappakāsanaṁ nāmetaṁ, iṅgha me tvaṁ tattha kāraṇaṁ sammā brūhi sakavādassa patiṭṭhāpanāya diṭṭhijālaviniveṭhanāyā”ti.
Thero āha—
“parinibbuto, mahārāja, bhagavā, na ca bhagavā pūjaṁ sādiyati, asādiyantasseva tathāgatassa devamanussā dhāturatanaṁ vatthuṁ karitvā tathāgatassa ñāṇaratanārammaṇena sammāpaṭipattiṁ sevantā tisso sampattiyo paṭilabhanti.
Yathā, mahārāja, mahatimahāaggikkhandho pajjalitvā nibbāyeyya, api nu kho so, mahārāja, mahāaggikkhandho sādiyati tiṇakaṭṭhupādānan”ti?
“Jalamānopi so, bhante, mahāaggikkhandho tiṇakaṭṭhupādānaṁ na sādiyati, kiṁ pana nibbuto upasanto acetano sādiya”ti?
“Tasmiṁ pana, mahārāja, aggikkhandhe uparate upasante loke aggi suñño hotī”ti.
“Na hi, bhante, kaṭṭhaṁ aggissa vatthu hoti upādānaṁ, ye keci manussā aggikāmā, te attano thāmabalavīriyena paccattapurisakārena kaṭṭhaṁ manthayitvā aggiṁ nibbattetvā tena agginā aggikaraṇīyāni kammāni karontī”ti.
“Tena hi, mahārāja, titthiyānaṁ vacanaṁ micchā bhavati ‘asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphalo’ti.
Yathā, mahārāja, mahatimahāaggikkhandho pajjali;
evameva bhagavā dasasahassiyā lokadhātuyā buddhasiriyā pajjali.
Yathā, mahārāja, mahatimahāaggikkhandho pajjalitvā nibbuto;
evameva bhagavā dasasahassiyā lokadhātuyā buddhasiriyā pajjalitvā anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto.
Yathā, mahārāja, nibbuto aggikkhandho tiṇakaṭṭhupādānaṁ na sādiyati;
evameva kho lokahitassa sādiyanā pahīnā upasantā.
Yathā, mahārāja, manussā nibbute aggikkhandhe anupādāne attano thāmabalavīriyena paccattapurisakārena kaṭṭhaṁ manthayitvā aggiṁ nibbattetvā tena agginā aggikaraṇīyāni kammāni karonti;
evameva kho devamanussā tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhāturatanaṁ vatthuṁ karitvā tathāgatassa ñāṇaratanārammaṇena sammāpaṭipattiṁ sevantā tisso sampattiyo paṭilabhanti, imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Yathā, mahārāja, mahatimahāvāto vāyitvā uparameyya, api nu kho so, mahārāja, uparato vāto sādiyati puna nibbattāpanan”ti?
“Na hi, bhante, uparatassa vātassa ābhogo vā manasikāro vā puna nibbattāpanāya”.
“Kiṅkāraṇaṁ”?
“Acetanā sā vāyodhātū”ti.
“Api nu tassa, mahārāja, uparatassa vātassa vātoti samaññā apagacchatī”ti?
“Na hi, bhante, tālavaṇṭavidhūpanāni vātassa uppattiyā paccayā, ye keci manussā uṇhābhitattā pariḷāhaparipīḷitā, te tālavaṇṭena vā vidhūpanena vā attano thāmabalavīriyena paccattapurisakārena taṁ nibbattetvā tena vātena uṇhaṁ nibbāpenti pariḷāhaṁ vūpasamentī”ti.
“Tena hi, mahārāja, titthiyānaṁ vacanaṁ micchā bhavati ‘asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphalo’ti.
Yathā, mahārāja, mahatimahāvāto vāyi;
evameva bhagavā dasasahassiyā lokadhātuyā sītalamadhurasantasukhumamettāvātena upavāyi.
Yathā, mahārāja, mahatimahāvāto vāyitvā uparato;
evameva bhagavā sītalamadhurasantasukhumamettāvātena upavāyitvā anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto.
Yathā, mahārāja, uparato vāto puna nibbattāpanaṁ na sādiyati;
evameva lokahitassa sādiyanā pahīnā upasantā.
Yathā, mahārāja, te manussā uṇhābhitattā pariḷāhaparipīḷitā;
evameva devamanussā tividhaggisantāpapariḷāhaparipīḷitā.
Yathā tālavaṇṭavidhūpanāni vātassa nibbattiyā paccayā honti;
evameva tathāgatassa dhātu ca ñāṇaratanañca paccayo hoti tissannaṁ sampattīnaṁ paṭilābhāya.
Yathā manussā uṇhābhitattā pariḷāhaparipīḷitā tālavaṇṭena vā vidhūpanena vā vātaṁ nibbattetvā uṇhaṁ nibbāpenti pariḷāhaṁ vūpasamenti;
evameva devamanussā tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhātuñca ñāṇaratanañca pūjetvā kusalaṁ nibbattetvā tena kusalena tividhaggisantāpapariḷāhaṁ nibbāpenti vūpasamenti.
Imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi paravādānaṁ niggahāya.
Yathā, mahārāja, puriso bheriṁ ākoṭetvā saddaṁ nibbatteyya, yo so bherisaddo purisena nibbattito, so saddo antaradhāyeyya, api nu kho so, mahārāja, saddo sādiyati puna nibbattāpanan”ti?
“Na hi, bhante, antarahito so saddo, natthi tassa puna uppādāya ābhogo vā manasikāro vā, sakiṁ nibbatte bherisadde antarahite so bherisaddo samucchinno hoti.
Bherī pana, bhante, paccayo hoti saddassa nibbattiyā, atha puriso paccaye sati attajena vāyāmena bheriṁ akoṭetvā saddaṁ nibbattetī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, bhagavā sīlasamādhipaññāvimuttivimuttiñāṇadassanaparibhāvitaṁ dhāturatanañca dhammañca vinayañca anusiṭṭhañca satthāraṁ ṭhapayitvā sayaṁ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto, na ca parinibbute bhagavati sampattilābho upacchinno hoti, bhavadukkhapaṭipīḷitā sattā dhāturatanañca dhammañca vinayañca anusiṭṭhañca paccayaṁ karitvā sampattikāmā sampattiyo paṭilabhanti, imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Diṭṭhañcetaṁ, mahārāja, bhagavatā anāgatamaddhānaṁ.
Kathitañca bhaṇitañca ācikkhitañca ‘siyā kho panānanda, tumhākaṁ evamassa atītasatthukaṁ pāvacanaṁ natthi no satthāti, na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ, yo vo, ānanda, mayā dhammo ca vinayo ca desito paññatto, so vo mamaccayena satthā’ti.
Parinibbutassa tathāgatassa asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphaloti, taṁ tesaṁ titthiyānaṁ vacanaṁ micchā abhūtaṁ vitathaṁ alikaṁ viruddhaṁ viparītaṁ dukkhadāyakaṁ dukkhavipākaṁ apāyagamanīyanti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Sādiyati nu kho, mahārāja, ayaṁ mahāpathavī ‘sabbabījāni mayi saṁviruhantū’”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana tāni, mahārāja, bījāni asādiyantiyā mahāpathaviyā saṁviruhitvā daḷhamūlajaṭāpatiṭṭhitā khandhasārasākhāparivitthiṇṇā pupphaphaladharā hontī”ti?
“Asādiyantīpi, bhante, mahāpathavī tesaṁ bījānaṁ vatthu hoti paccayaṁ deti viruhanāya, tāni bījāni taṁ vatthuṁ nissāya tena paccayena saṁviruhitvā daḷhamūlajaṭāpatiṭṭhitā khandhasārasākhāparivitthiṇṇā pupphaphaladharā hontī”ti.
“Tena hi, mahārāja, titthiyā sake vāde naṭṭhā honti hatā viruddhā, sace te bhaṇanti—
‘asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphalo’ti.
Yathā, mahārāja, mahāpathavī, evaṁ tathāgato arahaṁ sammāsambuddho.
Yathā, mahārāja, mahāpathavī na kiñci sādiyati, evaṁ tathāgato na kiñci sādiyati.
Yathā, mahārāja, tāni bījāni pathaviṁ nissāya saṁviruhitvā daḷhamūlajaṭāpatiṭṭhitā khandhasārasākhāparivitthiṇṇā pupphaphaladharā honti, evaṁ devamanussā tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhātuñca ñāṇaratanañca nissāya daḷhakusalamūlapatiṭṭhitā samādhikkhandhadhammasārasīlasākhāparivitthiṇṇā vimuttipupphasāmaññaphaladharā honti, imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Sādiyanti nu kho, mahārāja, ime oṭṭhā goṇā gadrabhā ajā pasū manussā antokucchismiṁ kimikulānaṁ sambhavan”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana te, mahārāja, kimayo tesaṁ asādiyantānaṁ antokucchismiṁ sambhavitvā bahuputtanattā vepullataṁ pāpuṇantī”ti?
“Pāpassa, bhante, kammassa balavatāya asādiyantānaṁyeva tesaṁ sattānaṁ antokucchismiṁ kimayo sambhavitvā bahuputtanattā vepullataṁ pāpuṇantī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhātussa ca ñāṇārammaṇassa ca balavatāya tathāgate kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Sādiyanti nu kho, mahārāja, ime manussā ime aṭṭhanavuti rogā kāye nibbattantū”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana te, mahārāja, rogā asādiyantānaṁ kāye nipatantī”ti?
“Pubbe katena, bhante, duccaritenā”ti.
“Yadi, mahārāja, pubbe kataṁ akusalaṁ idha vedanīyaṁ hoti, tena hi, mahārāja, pubbe katampi idha katampi kusalākusalaṁ kammaṁ avañjhaṁ bhavati saphalanti.
Imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Sutapubbaṁ pana tayā, mahārāja, nandako nāma yakkho theraṁ sāriputtaṁ āsādayitvā pathaviṁ paviṭṭho”ti?
“Āma, bhante, suyyati, loke pākaṭo eso”ti.
“Api nu kho, mahārāja, thero sāriputto sādiyi nandakassa yakkhassa mahāpathavigilanan”ti.
“Ubbattiyantepi, bhante, sadevake loke patamānepi chamāyaṁ candimasūriye vikirantepi sinerupabbatarāje thero sāriputto na parassa dukkhaṁ sādiyeyya.
Taṁ kissa hetu?
Yena hetunā thero sāriputto kujjheyya vā dusseyya vā, so hetu therassa sāriputtassa samūhato samucchinno, hetuno samugghātitattā, bhante, thero sāriputto jīvitahārakepi kopaṁ na kareyyā”ti.
“Yadi, mahārāja, thero sāriputto nandakassa yakkhassa pathavigilanaṁ na sādiyi, kissa pana nandako yakkho pathaviṁ paviṭṭho”ti?
“Akusalassa, bhante, kammassa balavatāyā”ti.
“Yadi, mahārāja, akusalassa kammassa balavatāya nandako yakkho pathaviṁ paviṭṭho, asādiyantassāpi kato aparādho avañjho bhavati saphalo.
Tena hi, mahārāja, akusalassapi kammassa balavatāya asādiyantassa kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Kati nu kho te, mahārāja, manussā, ye etarahi mahāpathaviṁ paviṭṭhā, atthi te tattha savaṇan”ti?
“Āma, bhante, suyyatī”ti.
“Iṅgha tvaṁ, mahārāja, sāvehī”ti?
“Ciñcamāṇavikā, bhante, suppabuddho ca sakko, devadatto ca thero, nandako ca yakkho, nando ca māṇavakoti.
Sutametaṁ, bhante, ime pañca janā mahāpathaviṁ paviṭṭhā”ti.
“Kismiṁ te, mahārāja, aparaddhā”ti?
“Bhagavati ca, bhante, sāvakesu cā”ti.
“Api nu kho, mahārāja, bhagavā vā sāvakā vā sādiyiṁsu imesaṁ mahāpathavipavisanan”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tena hi, mahārāja, tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo”ti.
“Suviññāpito, bhante nāgasena, pañho gambhīro uttānīkato, guyhaṁ vidaṁsitaṁ, gaṇṭhi bhinno, gahanaṁ agahanaṁ kataṁ, naṭṭhā paravādā, bhaggā kudiṭṭhī, nippabhā jātā kutitthiyā, tvaṁ gaṇivarapavaramāsajjā”ti.
Katādhikārasaphalapañho paṭhamo.
PTS cs 10 Then Milinda the king, having thus been granted leave, fell at the feet of the teacher, and raising his clasped hands to his forehead, said: ‘Venerable Nāgasena, these leaders of other sects say thus: “If the Buddha accepts gifts he cannot have passed entirely away. He must be still in union with the world, having his being somewhere in it, in the world, a shareholder in the things of the world; and therefore any honour paid to him becomes empty and vain. On the other hand if he PTS vp En 145 be entirely passed away (from life), unattached to the world, escaped from all existence, then honours would not be offered to him. For he who is entirely set free accepts no honour, and any act done to him who accepts it not becomes empty and vain.” This is a dilemma which has two horns. It is not a matter within the scope of those who have no mind, it is a question fit for the great. Tear asunder this net of heresy, put it on one side. To you has this puzzle been put. Give to the future sons of the Conqueror eyes wherewith to see the riddle to the confusion of their adversaries.’
‘The Blessed One, O king,’ replied the Elder, ‘is entirely set free. And the Blessed One accepts no gift. Even at the foot of the Tree of Wisdom he abandoned all accepting of gifts, how much more then now when he has passed entirely away by that kind of passing away which leaves no root over (for the formation of a new existence). For this, O king, has been said by Sāriputta, the commander of the faith:
“Though worshipped, these Unequalled Ones, alike
By gods and men, unlike them all they heed
Neither a gift nor worship. They accept
It not, neither refuse it. Through the ages
All Buddhas were so, so will ever be!”’ PTS vp En 146
PTS cs 11 The king said: ‘Venerable Nāgasena, a father may speak in praise of his son, or a son of his father. But that is no ground for putting the adversaries to shame. It is only an expression of their own belief, Come now! Explain this matter to me fully to the establishing of your own doctrine, PTS vp Pali 96 and to the unravelling of the net of the heretics.’
The Elder replied: ‘The Blessed One, O king, is entirely set free (from life). And the Blessed One accepts no gift. If gods or men put up a building to contain the jewel treasure of the relics of a Tathāgata who does not accept their gift, still by that homage paid to the attainment of the supreme good under the form of the jewel treasure of his wisdom do they themselves attain to one or other of the three glorious states. Suppose, O king, that though a great and glorious fire had been kindled, it should die out, would it then again accept any supply of dried grass or sticks?’
‘Even as it burned, Sir, it could not be said to accept fuel, how much less when it had died away, and ceased to burn, could it, an unconscious thing, accept it?’
‘And when that one mighty fire had ceased, and gone out, would the world be bereft of fire?’
‘Certainly not. Dry wood is the seat, the basis of fire, and any men who want fire can, by the exertion of their own strength and power, such as resides in individual men, once more, by twirling the firestick, produce fire, and with that fire do any work for which fire is required.’ PTS vp En 147
‘Then that saying of the sectarians that “an act done to him who accepts it not is empty and vain” turns out to be false. As that great and glorious fire was set alight, even so, great king, was the Blessed One set alight in the glory of his Buddhahood over the ten thousand world systems. As it went out, so has he passed away into that kind of passing away in which no root remains. As the fire, when gone out, accepted no supply of fuel, just so, and for the good of the world, has his accepting of gifts ceased and determined. As men, when the fire is out, and has no further means of burning, then by their own strength and effort, such as resides in individual men, twirl the fire-stick and produce fire, and do any work for which fire is required—so do gods and men, though a Tathāgata has passed away and no longer accepts their gifts, yet put up a house for the jewel treasure of his relics, and doing homage to the attainment of supreme good under the form of the jewel treasure of his wisdom, they attain to one or other of the three glorious states. PTS vp Pali 97 Therefore is it, great king, that acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not accepting them, are nevertheless of value and bear fruit.’
PTS cs 12 ‘Now hear, too, another reason for the same thing. Suppose, O king, there were to arise a great and mighty wind, and that then it were to die away. Would that wind acquiesce in being produced again?’
‘A wind that has died away can have no thought or idea of being reproduced. And why? Because the element wind is an unconscious thing.’
‘Or even, O king, would the word “wind” be PTS vp En 148 still applicable to that wind, when it had so died away?’
‘Certainly not, Sir. But fans and punkahs are means for the production of wind. Any men who are oppressed by heat, or tormented by fever, can by means of fans and punkahs, and by the exertion of their own strength and power, such as resides in individual men, produce a breeze, and by that wind allay their heat, or assuage their fever.’
‘Then that saying of the sectarians that “an act done to him who accepts it not is empty and vain” turns out to be false. As the great and mighty wind which blew, even so, great king, has the Blessed One blown over the ten thousand world systems with the wind of his love, so cool, so sweet, so calm, so delicate. As it first blew, and then died away, so has the Blessed One, who once blew with the wind so cool, so sweet, so calm, so delicate, of his love, now passed away with that kind of passing away in which no root remains. As those men were oppressed by heat and tormented with fever, even so are gods and men tormented and oppressed with threefold fire and heat. As fans and punkahs are means of producing wind, so the relics and the jewel treasure of the wisdom of a Tathāgata are means of producing the threefold attainment. PTS vp Pali 98 And as men oppressed by heat and tormented by fever can by fans and punkahs produce a breeze, and thus allay the heat and assuage the fever, so can gods and men by offering reverence to the relics, and the PTS vp En 149 jewel treasure of the wisdom of a Tathāgata, though he has died away and accepts it not, cause goodness to arise within them, and by that goodness can assuage and can allay the fever and the torment of the threefold fire. Therefore is it, great king, that acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not accepting them, are nevertheless of value and bear fruit.’
PTS cs 13 ‘Now hear another reason. for the same thing. Suppose, O king, a man were to make a drum sound, and then that sound were to die away. Would that sound acquiesce in being produced again?’
‘Certainly not, Sir. The sound has vanished. It can have no thought or idea of being reproduced. The sound of a drum when it has once been produced and died away, is altogether cut off. But, Sir, a drum is a means of producing sound. And any man, as need arises, can by the effort of power residing in himself, beat on that drum, and so produce a sound.’
‘Just so, great king, has the Blessed One—except the teacher and the instruction he has left in his doctrine and discipline, and the jewel treasure of his relics whose value is derived from his righteousness, and contemplation, and wisdom, and emancipation, and insight given by the knowledge of emancipation—just so has he passed away by that kind of passing away in which no root remains. But the possibility of receiving the three attainments is not cut off because the Blessed One has passed away. Beings oppressed by the sorrow of becoming can, when they desire the attainments, still receive them by means of the jewel treasure of his relics and of his doctrine and discipline and teaching. Therefore is it, great king, that PTS vp En 150 all acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not accepting them, are nevertheless of value and bear fruit. And this future possibility, great king, has been foreseen by the Blessed One, and spoken of, and declared, and made known, when he said: “It may be, Ānanda, that in some of you the thought may arise: PTS vp Pali 99
‘The word of the Master is ended. We have no Teacher more!’ But it is not thus, Ānanda, that you should regard it. The Truth which I have preached to you, the Rules which I have laid down for the Order, let them, when I am gone, be the Teacher to you.” So that because the Tathāgata has passed away and consents not thereto, that therefore any act done to him is empty and vain—this saying of the enemy is proved false. It is untrue, unjust, not according to fact, wrong, and perverse. It is the cause of sorrow, has sorrow as its fruit, and leads down the road to perdition!’
PTS cs 14 ‘Now hear another reason for the same thing. Does the broad earth acquiesce, O king, in all kinds of seeds being planted all over it?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Then how is it those seeds, planted without the earth’s consent, do yet stand fast and firmly rooted, and expand into trees with great trunks and sap and branches, and bearing fruits and flowers?’
‘Though the earth, Sir, gives no consent, yet it acts as a site for those seeds, as a means of their development. Planted on that site they grow, by PTS vp En 151 its means, into such great trees with branches, flowers, and fruit.’
‘Then, great king, the sectaries are destroyed, defeated, proved wrong by their own words when they say that “an act done to him who accepts it not is empty and vain.” As the broad earth, O king, is the Tathāgata, the Arahat, the Buddha supreme. Like it he accepts nothing. Like the seeds which through it attain to such developments are the gods and men who, through the jewel treasures of the relics and the wisdom of the Tathāgata—though he have passed away and consent not to it—being firmly rooted by the roots of merit, become like unto trees casting a goodly shade by means of the trunk of contemplation, the sap of true doctrine, and the branches of righteousness, and bearing the flowers of emancipation, and the fruits of Samaṇaship. PTS vp Pali 100 Therefore is it, great king, that acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not accepting them, are still of value and bear fruit.’
PTS cs 15 ‘Now hear another and further reason for the same thing. Do camels, buffaloes, asses, goats, oxen, or men acquiesce in the birth of worms inside them?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Then how is it then, that without their consent worms are so born, and spread by rapid reproduction of sons and grandsons?’
‘By the power of evil Karma, Sir.’
‘Just so, great king, is it by the power of the relics and the wisdom of the Tathāgata, who has passed away and acquiesces in nothing, that an act done to him is of value and bears fruit.’ PTS vp En 152
PTS cs 16 ‘Now hear another and further reason for the same thing. Do men consent, O king, that the ninety-eight diseases should be produced in their bodies?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Then how is it the diseases come?’
‘By evil deeds done in former births.’
‘But, great king, if evil deeds done in a former birth have to be suffered here and now, then both good and evil done here or done before has weight and bears fruit. Therefore is it that acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not consenting, are nevertheless of value and bear fruit.’
PTS cs 17 ‘Now hear another and further reason for the same thing. Did you ever hear, O king, of the ogre named Nandaka, who, having laid hands upon the Elder Sāriputta, was swallowed up by the earth?’
‘Yes, Sir, that is matter of common talk among men.’
‘Well, did Sāriputta acquiesce in that?’
PTS vp Pali 101 ‘Though the world of gods and men, Sir, were to be destroyed, though the sun and moon were to fall upon the earth, though Sineru the king of mountains were to be dissolved, yet would not Sāriputta the Elder have consented to any pain being inflicted on a fellow creature. And why not? Because every condition of heart which could cause him to be angry or offended has been in him destroyed and rooted out. And as all cause thereof had thus been removed, Sir, therefore could not Sāriputta be angered even with those who sought to deprive him of his life.’ PTS vp En 153
‘But if Sāriputta, O king, did not consent to it, how was it that Nandaka was so swallowed up?’
‘By the power of his evil deeds.’
‘Then if so, great king, an act done to him who consents not is still of power and bears fruit. And if this is so of an evil deed, how much more of a good one? Therefore is it, O king, that acts done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not accepting them, are nevertheless of value and bear fruit.’
PTS cs 18 ‘Now how many, O king, are those men who, in this life, have been swallowed up by the earth? Have you heard anything on that point?’
‘Yes, Sir, I have heard how many there are.’
‘Then tell me.’
‘Kiñca the Brahmin woman, and Suppabuddha the Sākyan, and Devadatta the Elder, and Nandaka the ogre, and Nanda the Brahman—these are the five people who were swallowed up by the earth.’
‘And whom, O king, had they wronged?’
‘The Blessed One and his disciples.’
‘Then did the Blessed One or his disciples consent to their being so swallowed up?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Therefore is it, O king, that an act done to the Tathāgata, notwithstanding his having passed away and not consenting thereto, is nevertheless of value and bears fruit.’
‘Well has this deep question been explained by you, venerable Nāgasena, and made clear. You have made the secret thing PTS vp Pali 102 plain, you have loosed the knot, you have made in the jungle an open space, the adversaries are overthrown, the wrong opinion has been proved false, the sectaries have been covered PTS vp En 154 with darkness when they met you, O best of all the leaders of schools!’
Here ends the question as to not consenting to honours paid.
BJT 1Khi ấy, đức vua Milinda, với sự đã được cho phép, đã cúi xuống ở hai bàn chân của vị thầy, rồi đã chắp tay lên ở đầu, và nói điều này: “Thưa ngài Nāgasena, các giáo chủ tà giáo này nói như vầy: ‘Nếu đức Phật ưng thuận sự cúng dường thì đức Phật chưa đạt Niết Bàn, còn bị gắn bó với đời, còn ở trong đời, còn chung chạ với đời. Vì thế hành động hướng thượng được làm đến Ngài là vô ích, không có quả báu. Nếu đã đạt Niết Bàn thì Ngài không còn gắn bó với đời, đã tách rời khỏi tất cả các hữu, sự cúng dường đến Ngài không phát sanh nữa. Người đã đạt Niết Bàn không ưng thuận điều gì. Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu.’ Câu hỏi này có cả hai khía cạnh. Lãnh vực này không dành cho những kẻ có tâm trí chưa đạt, lãnh vực này chỉ dành cho những bậc vĩ đại. Xin ngài hãy phá vỡ mạng lưới tà kiến này. Xin ngài hãy xác định về điều chắc thật. Câu hỏi này được dành cho ngài. Xin ngài hãy ban cho sự nhận thức đến những người con của đấng Chiến Thắng trong ngày vị lai để phản bác lại các học thuyết khác.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt Niết Bàn, và đức Thế Tôn không ưng thuận sự cúng dường. Ngay tại cội cây Bồ Đề, sự ưng thuận của đức Như Lai đã được dứt bỏ, vậy thì còn điều gì nữa đối với vị đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót? Tâu đại vương, điều này cũng đã được vị trưởng lão Tướng Quân Chánh Pháp Sāriputtena nói đến:
Các bậc tương tương với đấng Vô Song, trong khi được cúng dường bởi chư Thiên và nhân loại, các vị ấy không ưng thuận sự tôn vinh; điều ấy là lẽ tự nhiên của chư Phật.”
BJT 2Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, con nói lời ca ngợi cha, cha nói lời khen ngợi con, điều này không phải là lý do để phản bác lại các học thuyết khác. Điều này gọi là lời tuyên bố về niềm tin. Vậy xin ngài hãy nói rõ ràng cho trẫm lý do về trường hợp ấy nhằm thiết lập học thuyết của mình và nhằm việc tháo tung mạng lưới tà kiến.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt Niết Bàn, và đức Thế Tôn không ưng thuận sự cúng dường. Chư Thiên và nhân loại, trong khi thực hiện nền đất cho báu vật xá-lợi của đức Như Lai dẫu cho Ngài không ưng thuận và trong khi đeo đuổi pháp hành đúng đắn với đề mục là báu vật trí tuệ của đức Như Lai, vẫn đạt được ba sự thành tựu. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn bốc cháy rồi tắt ngấm, tâu đại vương phải chăng khối lửa ấy cũng ưng thuận việc bám víu vào cỏ và củi?”
“Thưa ngài, ngay cả trong khi đang cháy, khối lửa lớn ấy cũng không ưng thuận việc bám víu vào cỏ và củi, vậy thì việc gì lại ưng thuận khi đã tắt ngấm, được yên lặng, không còn tâm thức?”
“Tâu đại vương, phải chăng khi khối lửa lớn ấy đã ngừng nghỉ, được yên lặng, thì không còn ngọn lửa ở thế gian?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, củi là nền tảng, là sự bám víu của ngọn lửa. Thưa ngài, bất cứ những người nào có ước muốn về lửa, những người ấy xoay tròn nhánh củi bằng thể lực, sức mạnh, và sự nỗ lực của bản thân, do việc làm của mỗi cá nhân thì làm phát sanh ngọn lửa, rồi với ngọn lửa ấy làm các công việc được làm bởi ngọn lửa.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy lời nói của các giáo chủ tà giáo: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu’ là sai trái. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đã bốc cháy, tương tợ y như thế đức Thế Tôn đã bốc cháy với vẻ rực rỡ của vị Phật trong mười ngàn thế giới. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn bốc cháy rồi tắt ngấm, tương tợ y như thế đức Thế Tôn sau khi bốc cháy với vẻ rực rỡ của vị Phật trong mười ngàn thế giới rồi đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đã tắt ngấm thì không còn ưng thuận việc bám víu vào cỏ và củi, tương tợ y như thế sự ưng thuận của đấng Phúc Lợi Thế Gian là đã được dứt bỏ, được yên lặng. Tâu đại vương, giống như khi khối lửa đã tắt ngấm, không còn bám víu, những người xoay tròn nhánh củi bằng thể lực, sức mạnh, và sự nỗ lực của bản thân, do việc làm của mỗi cá nhân thì làm phát sanh ngọn lửa, rồi với ngọn lửa ấy làm các công việc được làm bởi ngọn lửa, tương tợ y như thế chư Thiên và nhân loại sau khi thực hiện nền đất cho báu vật xá-lợi của đức Như Lai dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, và trong khi đeo đuổi pháp hành đúng đắn với đề mục là báu vật trí tuệ của đức Như Lai, vẫn đạt được ba sự thành tựu. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.”
BJT 3“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn thổi qua rồi ngừng nghỉ, tâu đại vương phải chăng cơn gió đã ngừng nghỉ ấy cũng ưng thuận việc sanh lên lần nữa?”
“Thưa ngài, cơn gió đã ngừng nghỉ hẵn không có tư tưởng hoặc tác ý cho việc sanh lên lần nữa. Vì lý do gì? Bản chất của gió ấy là không có suy tư.”
“Tâu đại vương, phải chăng có việc nhận biết về ‘cơn gió’ khi cơn gió ấy đã ngừng nghỉ?”
“Thưa ngài, không có. Cành lá thốt nốt và cây quạt là điều kiện để tạo ra cơn gió. Những người nào bị bực bội bởi sức nóng, bị hành hạ bởi sự đốt nóng, những người ấy bằng thể lực, sức mạnh, và sự nỗ lực của bản thân, do việc làm của mỗi cá nhân thì làm phát sanh lên cơn gió với cành lá thốt nốt hoặc với cây quạt rồi làm dập tắt sự nóng nực, làm dịu đi sự đốt nóng.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy lời nói của các giáo chủ tà giáo: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu’ là sai trái. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn đã thổi qua, tương tợ y như thế đức Thế Tôn đã thổi đến cơn gió mát mẻ, ngọt ngào, êm dịu, và từ ái ở mười ngàn thế giới. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn thổi qua rồi ngừng nghỉ, tương tợ y như thế đức Thế Tôn sau khi thổi đến cơn gió mát mẻ, ngọt ngào, êm dịu, và từ ái rồi đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn đã ngừng nghỉ thì không còn ưng thuận việc sanh lên lần nữa, tương tợ y như thế sự ưng thuận của đấng Phúc Lợi Thế Gian là đã được dứt bỏ, được yên lặng. Tâu đại vương, giống như những người ấy bị bực bội bởi sức nóng, bị hành hạ bởi sự đốt nóng, tương tợ y như thế chư Thiên và nhân loại bị hành hạ bởi sức nóng bởi sự đốt nóng của ngọn lửa gồm ba loại (tham sân si). Giống như cành lá thốt nốt và cây quạt là điều kiện để tạo ra cơn gió, tương tợ y như thế xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai là điều kiện cho việc đạt được ba sự thành tựu. Giống như những người bị bực bội bởi sức nóng, bị hành hạ bởi sự đốt nóng thì làm phát sanh lên cơn gió với cành lá thốt nốt hoặc với cây quạt rồi làm tắt ngấm sự nóng nực, làm dịu đi sự đốt nóng, tương tợ y như thế chư Thiên và nhân loại sau khi cúng dường xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, sau khi làm phát sanh pháp thiện, với pháp thiện ấy làm tắt ngấm, làm dịu sự nóng nực và sự đốt nóng của ngọn lửa gồm ba loại. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.
BJT 4Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa để phản bác lại các học thuyết khác. Tâu đại vương, giống như người đàn ông sau khi vỗ vào cái trống thì tạo ra âm thanh; âm thanh nào của cái trống đã được tạo ra bởi người đàn ông thì âm thanh ấy sẽ biến mất. Tâu đại vương, phải chăng âm thanh ấy cũng ưng thuận việc tạo ra lần nữa?”
“Thưa ngài, không đúng. Âm thanh ấy đã biến mất, nó không có tư tưởng hoặc tác ý cho việc sanh lên lần nữa. Khi âm thanh của cái trống đã được tạo ra một lần rồi biến mất, âm thanh của cái trống ấy được chấm dứt. Thưa ngài, tuy nhiên cái trống là điều kiện cho việc tạo ra âm thanh. Và người đàn ông khi có điều kiện vỗ vào cái trống bằng sự nỗ lực của chính mình thì tạo ra âm thanh.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn, sau khi xác lập báu vật xá-lợi, cùng với Pháp, Luật, và lời giáo huấn đã được phát triển toàn vẹn nhờ vào Giới-Định-Tuệ-Giải Thoát-Trí Tuệ và Nhận Thức về sự Giải Thoát chính là bậc Đạo Sư, rồi đã tự mình Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Và không phải khi đức Thế Tôn đã Viên Tịch Niết Bàn thì việc đạt được các sự thành tựu là bị gián đoạn. Các chúng sanh bị hành hạ bởi khổ đau ở sự hiện hữu, sau khi sử dụng báu vật xá-lợi, Pháp, Luật, và lời giáo huấn làm điều kiện, rồi có ước muốn về sự thành tựu thì đạt được các sự thành tựu. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn, không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.
Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã nhìn thấy, đã thuyết giảng, đã nói lên, đã phát biểu về điều ấy cho thời vị lai xa xôi rằng: ‘Này Ānanda, nếu các ngươi khởi ý như vầy: Có lời dạy của đấng Đạo Sư trong quá khứ, còn (hiện nay) chúng ta không có bậc Đạo Sư. Này Ānanda, điều này không nên được nhận thức như thế. Này Ānanda, Pháp và Luật nào đã được thuyết giảng, đã được quy định bởi Ta, Pháp và Luật ấy, sau khi Ta tịch diệt, là bậc Đạo Sư của các ngươi.’ Về lời nói ấy của các giáo chủ tà giáo ấy rằng: ‘Đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là vô ích, không có quả báu’ là sai trái, không là sự thật, lìa sự chân thật, không đúng, là mâu thuẫn, là sai lệch, tạo sự khổ đau, có kết quả khổ đau, dẫn đến địa ngục.”
BJT 5“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, phải chăng đại địa cầu này ưng thuận rằng: ‘Tất cả hạt giống hãy mọc lên ở nơi ta’?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao các hạt giống ấy, trong khi đại địa cầu không ưng thuận, lại mọc lên, tạo lập chùm rễ vững chãi, có thân cây, lõi cây, và cành cây tỏa rộng xung quanh, có mang hoa và quả?”
“Thưa ngài, mặc dầu không ưng thuận đại địa cầu vẫn là nền tảng và tạo điều kiện cho sự phát triển của các hột giống ấy. Các hột giống ấy nương vào nền tảng ấy, nhờ vào điều kiện ấy mọc lên, tạo lập chùm rễ vững chãi, có thân cây, lõi cây, và cành cây tỏa rộng xung quanh, có mang hoa và quả.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy các giáo chủ tà giáo đã bị hư hoại, bị thất bại, bị mâu thuẫn ở lời nói của họ nếu họ nói rằng: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu.’ Tâu đại vương, đại địa cầu như thế nào, thì đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri như thế ấy. Tâu đại vương, đại địa cầu không ưng thuận bất cứ điều gì như thế nào, thì đức Như Lai không ưng thuận bất cứ điều gì như thế ấy. Tâu đại vương, các hột giống ấy nương vào trái đất mọc lên, tạo lập chùm rễ vững chãi, có thân cây, lõi cây, và cành cây tỏa rộng xung quanh, có mang hoa và quả như thế nào, thì chư Thiên và nhân loại nương vào xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, rồi tạo lập nền tảng vững chãi về pháp thiện, có thân cây là định, lõi cây là Pháp, và cành cây là giới tỏa rộng xung quanh, có mang hoa là sự giải thoát và quả là bản thể Sa-môn như thế ấy. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.”
BJT 6“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, phải chăng các con lạc đà, các con bò, các con lừa, các con dê, các con thú, các con người này ưng thuận sự hiện hữu của các dòng họ giun sán ở trong bụng?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao trong khi chúng không ưng thuận mà các con giun sán ấy lại hiện hữu và vô số con cháu lại đạt được sự phát triển ở trong bụng của chúng?”
“Thưa ngài, do năng lực của nghiệp ác mà các con con giun sán ấy hiện hữu và vô số con cháu đạt được sự phát triển ở trong bụng của các chúng sanh ấy mặc dầu chúng không ưng thuận.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do năng lực của xá-lợi và báu vật trí tuệ, dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai là không vô ích, có quả báu.”
BJT 7“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, phải chăng các con người này ưng thuận rằng: ‘Chín mươi tám loại bệnh này hãy sanh lên ở thân thể’?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao các loại bệnh ấy lại giáng xuống thân thể của những người không ưng thuận?”
“Thưa ngài, do ác hạnh đã làm ở thời quá khứ.”
“Tâu đại vương, nếu điều bất thiện đã làm ở thời quá khứ có thể được cảm thọ ở đây, tâu đại vương, chính vì điều ấy nghiệp thiện hoặc bất thiện đã làm ở thời quá khứ cũng như đã làm ở đây là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.”
BJT 8“Tâu đại vương, hơn nữa đại vương có được nghe trước đây rằng Dạ-xoa tên Nandaka sau khi công kích vị trưởng lão Sāriputta đã bị rơi vào trong trái đất?”
“Thưa ngài, đúng vậy, có được nghe. Điều ấy là rõ rệt ở thế gian.”
“Tâu đại vương, phải chăng trưởng lão Sāriputta đã ưng thuận việc nuốt vào của trái đất đối với Dạ-xoa Nandaka?”
“Thưa ngài, ngay cả khi thế gian có cả chư Thiên đang bị vỡ ra, ngay cả khi mặt trăng và mặt trời đang bị rơi xuống ở mặt đất, ngay cả khi núi chúa Sineru đang bị vỡ tung tóe, trưởng lão Sāriputta cũng không ưng thuận sự khổ đau của người khác. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Do nhân nào mà trưởng lão Sāriputta có thể nổi giận hoặc sân hận, nhân ấy đối với trưởng lão Sāriputta đã được nhổ bỏ, đã được trừ tuyệt. Thưa ngài, do tính chất đã được nhổ bỏ của nhân mà trưởng lão Sāriputta không thể nào giận dữ dầu có liên quan đến việc bị tước đoạt mạng sống.”
“Tâu đại vương, nếu trưởng lão Sāriputta đã không ưng thuận việc nuốt vào của trái đất đối với Dạ-xoa Nandaka, vậy thì tại sao Dạ-xoa Nandaka lại rơi vào trong trái đất?”
“Thưa ngài, do năng lực của nghiệp bất thiện.”
“Tâu đại vương, nếu do năng lực của nghiệp bất thiện mà Dạ-xoa Nandaka rơi vào trong trái đất, thì sự xúc phạm đã làm đến người dầu là không ưng thuận cũng là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, chính vì điều ấy do năng lực của nghiệp thiện, ‘hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là không vô ích, có quả báu.’
Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.
BJT 9Tâu đại vương, vào thời bấy giờ những người đã rơi vào trong trái đất là bao nhiêu? Đại vương có được nghe về trường hợp ấy không?”
“Thưa ngài, đúng vậy, có được nghe.”
“Tâu đại vương, vậy xin đại vương hãy cho nghe với.”
“Thưa ngài, là ‘thiếu nữ Ciñcā, Suppabuddha dòng Sakya, trưởng lão Devadatta, Dạ-xoa Nandaka, và thanh niên Nanda.’ Thưa ngài, điều này trẫm đã được nghe, năm người này đã rơi vào trong trái đất.”
“Tâu đại vương, những người ấy đã xúc phạm đến ai?”
“Thưa ngài, đến đức Thế Tôn và các vị Thinh Văn.”
“Tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn hay các vị Thinh Văn đã ưng thuận việc hút vào của trái đất đối với những người này?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi thâm sâu đã khéo được giảng giải, đã được làm rõ, điều bí mật đã được phơi bày, nút thắt đã được mở ra, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, lời tuyên thuyết của ngoại đạo đã bị hư hoại, quan điểm xấu đã bị đổ vỡ, các giáo chủ tà giáo đã không còn hào quang phát sanh, ngài đã tiến đến vị thế cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng.”
Câu hỏi về việc không thọ nhận cúng dường là thứ nhất.
Atha kho milindo rājā katāvakāso nipacca garuno pāde sirasi añjaliṁ katvā etadavoca—
“bhante nāgasena, ime titthiyā evaṁ bhaṇanti—
‘yadi buddho pūjaṁ sādiyati, na parinibbuto buddho saṁyutto lokena antobhaviko lokasmiṁ lokasādhāraṇo, tasmā tassa kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Yadi parinibbuto visaṁyutto lokena nissaṭo sabbabhavehi, tassa pūjā nuppajjati, parinibbuto na kiñci sādiyati, asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphalo’ti ubhato koṭiko eso pañho, neso visayo appattamānasānaṁ, mahantānaṁ yeveso visayo, bhindetaṁ diṭṭhijālaṁ ekaṁse ṭhapaya, taveso pañho anuppatto, anāgatānaṁ jinaputtānaṁ cakkhuṁ dehi paravādaniggahāyā”ti.
Thero āha—
“parinibbuto, mahārāja, bhagavā, na ca bhagavā pūjaṁ sādiyati, bodhimūleyeva tathāgatassa sādiyanā pahīnā, kiṁ pana anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbutassa.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Pūjiyantā asamasamā,
sadevamānusehi te;
Na sādiyanti sakkāraṁ,
buddhānaṁ esa dhammatā’”ti.
Rājā āha—
“bhante nāgasena, putto vā pituno vaṇṇaṁ bhāsati, pitā vā puttassa vaṇṇaṁ bhāsati, na cetaṁ kāraṇaṁ paravādānaṁ niggahāya, pasādappakāsanaṁ nāmetaṁ, iṅgha me tvaṁ tattha kāraṇaṁ sammā brūhi sakavādassa patiṭṭhāpanāya diṭṭhijālaviniveṭhanāyā”ti.
Thero āha—
“parinibbuto, mahārāja, bhagavā, na ca bhagavā pūjaṁ sādiyati, asādiyantasseva tathāgatassa devamanussā dhāturatanaṁ vatthuṁ karitvā tathāgatassa ñāṇaratanārammaṇena sammāpaṭipattiṁ sevantā tisso sampattiyo paṭilabhanti.
Yathā, mahārāja, mahatimahāaggikkhandho pajjalitvā nibbāyeyya, api nu kho so, mahārāja, mahāaggikkhandho sādiyati tiṇakaṭṭhupādānan”ti?
“Jalamānopi so, bhante, mahāaggikkhandho tiṇakaṭṭhupādānaṁ na sādiyati, kiṁ pana nibbuto upasanto acetano sādiya”ti?
“Tasmiṁ pana, mahārāja, aggikkhandhe uparate upasante loke aggi suñño hotī”ti.
“Na hi, bhante, kaṭṭhaṁ aggissa vatthu hoti upādānaṁ, ye keci manussā aggikāmā, te attano thāmabalavīriyena paccattapurisakārena kaṭṭhaṁ manthayitvā aggiṁ nibbattetvā tena agginā aggikaraṇīyāni kammāni karontī”ti.
“Tena hi, mahārāja, titthiyānaṁ vacanaṁ micchā bhavati ‘asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphalo’ti.
Yathā, mahārāja, mahatimahāaggikkhandho pajjali;
evameva bhagavā dasasahassiyā lokadhātuyā buddhasiriyā pajjali.
Yathā, mahārāja, mahatimahāaggikkhandho pajjalitvā nibbuto;
evameva bhagavā dasasahassiyā lokadhātuyā buddhasiriyā pajjalitvā anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto.
Yathā, mahārāja, nibbuto aggikkhandho tiṇakaṭṭhupādānaṁ na sādiyati;
evameva kho lokahitassa sādiyanā pahīnā upasantā.
Yathā, mahārāja, manussā nibbute aggikkhandhe anupādāne attano thāmabalavīriyena paccattapurisakārena kaṭṭhaṁ manthayitvā aggiṁ nibbattetvā tena agginā aggikaraṇīyāni kammāni karonti;
evameva kho devamanussā tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhāturatanaṁ vatthuṁ karitvā tathāgatassa ñāṇaratanārammaṇena sammāpaṭipattiṁ sevantā tisso sampattiyo paṭilabhanti, imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Yathā, mahārāja, mahatimahāvāto vāyitvā uparameyya, api nu kho so, mahārāja, uparato vāto sādiyati puna nibbattāpanan”ti?
“Na hi, bhante, uparatassa vātassa ābhogo vā manasikāro vā puna nibbattāpanāya”.
“Kiṅkāraṇaṁ”?
“Acetanā sā vāyodhātū”ti.
“Api nu tassa, mahārāja, uparatassa vātassa vātoti samaññā apagacchatī”ti?
“Na hi, bhante, tālavaṇṭavidhūpanāni vātassa uppattiyā paccayā, ye keci manussā uṇhābhitattā pariḷāhaparipīḷitā, te tālavaṇṭena vā vidhūpanena vā attano thāmabalavīriyena paccattapurisakārena taṁ nibbattetvā tena vātena uṇhaṁ nibbāpenti pariḷāhaṁ vūpasamentī”ti.
“Tena hi, mahārāja, titthiyānaṁ vacanaṁ micchā bhavati ‘asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphalo’ti.
Yathā, mahārāja, mahatimahāvāto vāyi;
evameva bhagavā dasasahassiyā lokadhātuyā sītalamadhurasantasukhumamettāvātena upavāyi.
Yathā, mahārāja, mahatimahāvāto vāyitvā uparato;
evameva bhagavā sītalamadhurasantasukhumamettāvātena upavāyitvā anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto.
Yathā, mahārāja, uparato vāto puna nibbattāpanaṁ na sādiyati;
evameva lokahitassa sādiyanā pahīnā upasantā.
Yathā, mahārāja, te manussā uṇhābhitattā pariḷāhaparipīḷitā;
evameva devamanussā tividhaggisantāpapariḷāhaparipīḷitā.
Yathā tālavaṇṭavidhūpanāni vātassa nibbattiyā paccayā honti;
evameva tathāgatassa dhātu ca ñāṇaratanañca paccayo hoti tissannaṁ sampattīnaṁ paṭilābhāya.
Yathā manussā uṇhābhitattā pariḷāhaparipīḷitā tālavaṇṭena vā vidhūpanena vā vātaṁ nibbattetvā uṇhaṁ nibbāpenti pariḷāhaṁ vūpasamenti;
evameva devamanussā tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhātuñca ñāṇaratanañca pūjetvā kusalaṁ nibbattetvā tena kusalena tividhaggisantāpapariḷāhaṁ nibbāpenti vūpasamenti.
Imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi paravādānaṁ niggahāya.
Yathā, mahārāja, puriso bheriṁ ākoṭetvā saddaṁ nibbatteyya, yo so bherisaddo purisena nibbattito, so saddo antaradhāyeyya, api nu kho so, mahārāja, saddo sādiyati puna nibbattāpanan”ti?
“Na hi, bhante, antarahito so saddo, natthi tassa puna uppādāya ābhogo vā manasikāro vā, sakiṁ nibbatte bherisadde antarahite so bherisaddo samucchinno hoti.
Bherī pana, bhante, paccayo hoti saddassa nibbattiyā, atha puriso paccaye sati attajena vāyāmena bheriṁ akoṭetvā saddaṁ nibbattetī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, bhagavā sīlasamādhipaññāvimuttivimuttiñāṇadassanaparibhāvitaṁ dhāturatanañca dhammañca vinayañca anusiṭṭhañca satthāraṁ ṭhapayitvā sayaṁ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto, na ca parinibbute bhagavati sampattilābho upacchinno hoti, bhavadukkhapaṭipīḷitā sattā dhāturatanañca dhammañca vinayañca anusiṭṭhañca paccayaṁ karitvā sampattikāmā sampattiyo paṭilabhanti, imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Diṭṭhañcetaṁ, mahārāja, bhagavatā anāgatamaddhānaṁ.
Kathitañca bhaṇitañca ācikkhitañca ‘siyā kho panānanda, tumhākaṁ evamassa atītasatthukaṁ pāvacanaṁ natthi no satthāti, na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ, yo vo, ānanda, mayā dhammo ca vinayo ca desito paññatto, so vo mamaccayena satthā’ti.
Parinibbutassa tathāgatassa asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphaloti, taṁ tesaṁ titthiyānaṁ vacanaṁ micchā abhūtaṁ vitathaṁ alikaṁ viruddhaṁ viparītaṁ dukkhadāyakaṁ dukkhavipākaṁ apāyagamanīyanti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Sādiyati nu kho, mahārāja, ayaṁ mahāpathavī ‘sabbabījāni mayi saṁviruhantū’”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana tāni, mahārāja, bījāni asādiyantiyā mahāpathaviyā saṁviruhitvā daḷhamūlajaṭāpatiṭṭhitā khandhasārasākhāparivitthiṇṇā pupphaphaladharā hontī”ti?
“Asādiyantīpi, bhante, mahāpathavī tesaṁ bījānaṁ vatthu hoti paccayaṁ deti viruhanāya, tāni bījāni taṁ vatthuṁ nissāya tena paccayena saṁviruhitvā daḷhamūlajaṭāpatiṭṭhitā khandhasārasākhāparivitthiṇṇā pupphaphaladharā hontī”ti.
“Tena hi, mahārāja, titthiyā sake vāde naṭṭhā honti hatā viruddhā, sace te bhaṇanti—
‘asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphalo’ti.
Yathā, mahārāja, mahāpathavī, evaṁ tathāgato arahaṁ sammāsambuddho.
Yathā, mahārāja, mahāpathavī na kiñci sādiyati, evaṁ tathāgato na kiñci sādiyati.
Yathā, mahārāja, tāni bījāni pathaviṁ nissāya saṁviruhitvā daḷhamūlajaṭāpatiṭṭhitā khandhasārasākhāparivitthiṇṇā pupphaphaladharā honti, evaṁ devamanussā tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhātuñca ñāṇaratanañca nissāya daḷhakusalamūlapatiṭṭhitā samādhikkhandhadhammasārasīlasākhāparivitthiṇṇā vimuttipupphasāmaññaphaladharā honti, imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Sādiyanti nu kho, mahārāja, ime oṭṭhā goṇā gadrabhā ajā pasū manussā antokucchismiṁ kimikulānaṁ sambhavan”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana te, mahārāja, kimayo tesaṁ asādiyantānaṁ antokucchismiṁ sambhavitvā bahuputtanattā vepullataṁ pāpuṇantī”ti?
“Pāpassa, bhante, kammassa balavatāya asādiyantānaṁyeva tesaṁ sattānaṁ antokucchismiṁ kimayo sambhavitvā bahuputtanattā vepullataṁ pāpuṇantī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhātussa ca ñāṇārammaṇassa ca balavatāya tathāgate kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo.
Sādiyanti nu kho, mahārāja, ime manussā ime aṭṭhanavuti rogā kāye nibbattantū”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kissa pana te, mahārāja, rogā asādiyantānaṁ kāye nipatantī”ti?
“Pubbe katena, bhante, duccaritenā”ti.
“Yadi, mahārāja, pubbe kataṁ akusalaṁ idha vedanīyaṁ hoti, tena hi, mahārāja, pubbe katampi idha katampi kusalākusalaṁ kammaṁ avañjhaṁ bhavati saphalanti.
Imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Sutapubbaṁ pana tayā, mahārāja, nandako nāma yakkho theraṁ sāriputtaṁ āsādayitvā pathaviṁ paviṭṭho”ti?
“Āma, bhante, suyyati, loke pākaṭo eso”ti.
“Api nu kho, mahārāja, thero sāriputto sādiyi nandakassa yakkhassa mahāpathavigilanan”ti.
“Ubbattiyantepi, bhante, sadevake loke patamānepi chamāyaṁ candimasūriye vikirantepi sinerupabbatarāje thero sāriputto na parassa dukkhaṁ sādiyeyya.
Taṁ kissa hetu?
Yena hetunā thero sāriputto kujjheyya vā dusseyya vā, so hetu therassa sāriputtassa samūhato samucchinno, hetuno samugghātitattā, bhante, thero sāriputto jīvitahārakepi kopaṁ na kareyyā”ti.
“Yadi, mahārāja, thero sāriputto nandakassa yakkhassa pathavigilanaṁ na sādiyi, kissa pana nandako yakkho pathaviṁ paviṭṭho”ti?
“Akusalassa, bhante, kammassa balavatāyā”ti.
“Yadi, mahārāja, akusalassa kammassa balavatāya nandako yakkho pathaviṁ paviṭṭho, asādiyantassāpi kato aparādho avañjho bhavati saphalo.
Tena hi, mahārāja, akusalassapi kammassa balavatāya asādiyantassa kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Kati nu kho te, mahārāja, manussā, ye etarahi mahāpathaviṁ paviṭṭhā, atthi te tattha savaṇan”ti?
“Āma, bhante, suyyatī”ti.
“Iṅgha tvaṁ, mahārāja, sāvehī”ti?
“Ciñcamāṇavikā, bhante, suppabuddho ca sakko, devadatto ca thero, nandako ca yakkho, nando ca māṇavakoti.
Sutametaṁ, bhante, ime pañca janā mahāpathaviṁ paviṭṭhā”ti.
“Kismiṁ te, mahārāja, aparaddhā”ti?
“Bhagavati ca, bhante, sāvakesu cā”ti.
“Api nu kho, mahārāja, bhagavā vā sāvakā vā sādiyiṁsu imesaṁ mahāpathavipavisanan”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tena hi, mahārāja, tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo”ti.
“Suviññāpito, bhante nāgasena, pañho gambhīro uttānīkato, guyhaṁ vidaṁsitaṁ, gaṇṭhi bhinno, gahanaṁ agahanaṁ kataṁ, naṭṭhā paravādā, bhaggā kudiṭṭhī, nippabhā jātā kutitthiyā, tvaṁ gaṇivarapavaramāsajjā”ti.
Katādhikārasaphalapañho paṭhamo.