BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài đã nói như vầy: ‘Các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin, khi đức vua đã bị mù thì các thiên nhãn đã được tạo ra lại.’ Lời nói này cũng có sự sái quấy, có sự bắt bẻ, có khuyết điểm. Điều đã được nói ở trong Kinh là: ‘Khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng, thì không có sự tạo ra thiên nhãn.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin, như thế thì lời nói rằng: ‘Các thiên nhãn đã được tạo ra lại’ là sai trái. Nếu các thiên nhãn đã được tạo ra, như thế thì lời nói rằng: ‘Các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, bị thắt lại còn hơn nút thắt, bị xoắn lại còn hơn vật xoắn, bị rối rắm còn hơn bụi rậm, nó được dành cho ngài. Ở đây, xin ngài hãy khởi lên ước muốn về việc giải quyết vì sự bắt bẻ của các học thuyết khác.”
BJT 2“Tâu đại vương, các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin. Đại vương chớ khởi lên sự phân vân về trường hợp ấy. Và các thiên nhãn đã được tạo ra lại. Đại vương cũng chớ này sanh sự phân vân về trường hợp ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, phải chăng khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng thì thiên nhãn cũng được tạo ra?”
“Tâu đại vương, không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì ở đây điều gì là lý do mà với lý do ấy thiên nhãn lại được tạo ra khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng? Vậy ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
BJT 3“Tâu đại vương, có chăng ở thế gian cái gọi là sự chân thật mà những người có lời nói chân thật về điều ấy tạo ra sự phát nguyện chân thật?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có cái gọi là sự chân thật ở thế gian. Thưa ngài Nāgasena, những người nói lời chân thật với sự chân thật tạo ra sự phát nguyện chân thật khiến cho trời đổ mưa, khiến cho lửa bị dập tắt, làm tiêu tan chất độc, và còn tạo ra việc có thể làm các loại khác nữa.”
“Tâu đại vương, như thế thì nó liên quan, nó phù hợp với việc các thiên nhãn đã được tạo ra cho đức vua Sivi là nhờ vào năng lực của sự chân thật. Tâu đại vương, nhờ vào năng lực của sự chân thật mà thiên nhãn đã được tạo ra khi không có nền tảng. Ở đây, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn. Tâu đại vương, giống như những vị đạo sĩ nào đó cầu khấn lời chân thật rằng: ‘Xin cho cơn mưa lớn hãy đổ xuống,’ cùng với việc đã cầu khấn lời chân thật của những người ấy, cơn mưa lớn đổ xuống. Tâu đại vương, phải chăng có nhân của cơn mưa đã hội tụ lại ở khoảng không mà với nhân ấy cơn mưa lớn đổ xuống?”
“Thưa ngài, không đúng. Trong trường hợp ấy, chính sự chân thật là nhân cho việc đổ xuống của cơn mưa lớn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ấy không có nhân bình thường. Trong trường hợp này, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn.”
BJT 4“Tâu đại vương, hoặc là giống như việc những vị đạo sĩ nào đó cầu khấn lời chân thật rằng: ‘Xin cho khối lửa lớn đã bộc phát hãy quay trở lại;’ cùng với việc đã cầu khấn lời chân thật của những người ấy, khối lửa lớn đã bộc phát tức thời quay trở lại. Tâu đại vương, phải chăng ở khối lửa lớn đã bộc phát ấy có nhân đã được hội tụ lại, mà do nhân ấy khối lửa lớn đã bộc phát tức thời quay trở lại?”
“Thưa ngài, không đúng. Chính sự chân thật là nền tảng cho việc tức thời quay trở lại của khối lửa lớn đã bốc phát ấy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ấy không có nhân bình thường. Trong trường hợp này, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn.”
BJT 5“Tâu đại vương, hoặc là giống như việc những vị đạo sĩ nào đó cầu khấn lời chân thật rằng: ‘Xin cho chất độc dữ dội trở thành thuốc chữa bệnh.’ Tâu đại vương, phải chăng ở chất độc dữ dội có nền tảng đã hội tụ lại, mà với nền tảng ấy chất độc dữ dội trở thành thuốc chữa bệnh?”
“Thưa ngài, không đúng. Trong trường hợp ấy, chính sự chân thật là nguyên nhân cho việc tức thời tiêu diệt chất độc dữ dội.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong trường hợp này, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn, không phải nhân bình thường.”
“Tâu đại vương, không có nền tảng nào khác cho việc thâm nhập bốn Chân Lý Cao Thượng. Bốn Chân Lý Cao Thượng được thâm nhập sau khi đã đặt nền tảng ở sự chân thật. Tâu đại vương, có đức vua Cīna ở khu vực Cīna. Đức vua có ước muốn tiến hành việc cúng tế ở đại dương nên đã thực hiện sự phát nguyện chân thật vào mỗi bốn tháng, rồi cùng với chiếc xe tiến vào trong đại dương một do-tuần. Khối lượng nước vĩ đại đi thụt lùi ở phía trước đầu chiếc xe của đức vua, đến khi đức vua đã vượt qua thì bao trùm lại. Tâu đại vương, phải chăng thế gian có cả chư Thiên và nhân loại, với năng lực của cơ thể bình thường, có thể khiến cho đại dương ấy đi thụt lùi?”
“Thưa ngài, thế gian có cả chư Thiên và nhân loại, với năng lực của cơ thể bình thường, cũng không thể khiến cho nước ở hồ nước vô cùng nhỏ đi thụt lùi, thì làm gì được đối với nước ở đại dương?”
BJT 6“Tâu đại vương, cũng vì lý do này mà năng lực của sự chân thật được biết đến như vầy: ‘Không có nơi nào mà sự chân thật không thể đạt đến.’
Tâu đại vương, đức vua công chính Asoka ở thành phố Pāṭaliputta, được tùy tùng bởi các thị dân, dân chúng, các viên chức, nhân công, binh lính, và các quan đại thần, sau khi nhìn thấy sông Gaṅgā tràn đầy nước mới, ngập bờ, trải rộng có bề dài năm trăm do-tuần, bề ngang một do-tuần, đang trôi chảy, nên đã nói với các quan viên rằng: ‘Này các khanh, có ai có khả năng làm cho sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng không?’ Các quan viên đã nói rằng: ‘Tâu bệ hạ, là việc khó làm.’ Có cô kỹ nữ tên Bindumatī đứng ở ngay tại bờ sông Gaṅgā ấy đã nghe rằng: ‘Nghe nói đức vua đã nói như vầy:—Có thể làm cho sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng không?’ Cô ấy đã nói như vầy: ‘Chính thiếp là người kỹ nữ ở thành phố lớn Pāṭaliputta, có cuộc sống nhờ vào sắc đẹp, là cách sinh nhai tồi tệ nhất. Mong rằng đức vua hãy chứng kiến sự phát nguyện chân thật của thiếp.’ Rồi cô ấy đã thực hiện sự phát nguyện chân thật. Vào giây phút của sự phát nguyện chân thật của cô ấy, con sông Gaṅgā vĩ đại ấy, trong lúc gầm lên tiếng rì rào, đã chảy ngược dòng cho đám đông người chứng kiến. Khi ấy, nghe được tiếng ầm ĩ tạo ra bởi tốc độ của sóng nước bị xoáy tròn, đức vua đã có sự ngạc nhiên được sanh lên do điều kỳ diệu phi thường, nên đã nói với các quan viên rằng: ‘Này các khanh, do người nào mà con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng?’ ‘Tâu đại vương, cô kỹ nữ Bindumatī sau khi nghe lời nói của đại vương đã thực hiện sự phát nguyện chân thật. Do sự phát nguyện chân thật của cô ấy mà con sông Gaṅgā chảy về phía thượng nguồn.’
Khi ấy, có tâm bị chấn động, đức vua đã đích thân đi đến vô cùng vội vã và đã hỏi cô kỹ nữ ấy rằng: ‘Này cô gái, nghe nói do sự phát nguyện chân thật của cô mà con sông Gaṅgā này chảy ngược dòng, có đúng không vậy?’ ‘Tâu bệ hạ, đúng vậy.’ Đức vua đã nói rắng: ‘Cô có năng lực gì về việc ấy? Ai mà tin lời nói của cô, nếu không bị điên khùng? Do năng lực gì mà cô đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng?’ Cô ấy đã nói rằng: ‘Tâu đại vương, do năng lực của sự chân thật mà thiếp đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng.’ Đức vua đã nói rắng: ‘Năng lực của sự chân thật gì có ở nơi cô, khi cô là kẻ trộm, hạng người vô lại, không trong sạch, lường gạt, độc ác, bóc lột những kẻ mê muội?’ ‘Tâu đại vương, sự thật thì thiếp là người như thế ấy.
Tâu đại vương, nếu năng lực của sự chân thật có ở nơi thiếp, thì với điều ấy, trong khi mong muốn, thiếp cũng có thể xoay chuyển thế gian có cả chư Thiên.’ Đức vua đã nói rắng: ‘Vậy thì sự phát nguyện chân thật ấy là điều gì?’ ‘Vậy thì xin đại vương hãy lắng nghe thiếp. Tâu đại vương, người nào dầu là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hoặc thương buôn, hay nô lệ, hoặc là bất cứ ai ban cho thiếp của cải, thì thiếp phục vụ những người ấy đều bình đẳng. Là ‘Sát-đế-lỵ’ không có gì đặc biệt. Là ‘nô lệ’ không có gì khinh chê. Thiếp hầu hạ người có của cải, thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu bệ hạ, điều ấy là sự phát nguyện chân thật của thiếp, nhờ nó mà thiếp đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng.’
Tâu đại vương, những người đứng vững ở sự chân thật cũng như thế, không có bất cứ ý nghĩa nào mà họ không biết. Tâu đại vương, các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin, và các thiên nhãn đã được tạo ra lại. Và điều ấy là do sự phát nguyện chân thật. Điều đã được nói ở trong Kinh là: ‘Khi nhục nhãn đã bị hư hoại, khi không có nhân, khi không có nền tảng, thì không có sự tạo ra của thiên nhãn,’ điều ấy được nói liên quan đến con mắt có vật liệu là sự tu tập. Tâu đại vương, xin đại vương hãy ghi nhớ điều này như thế.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ, sự bắt bẻ đã khéo được giải thích, các học thuyết khác đã khéo được nghiền nát. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự bố thí mắt của đức vua Sivi là thứ năm.
“Bhante nāgasena, tumhe evaṁ bhaṇatha—
‘sivirājena yācakassa cakkhūni dinnāni, andhassa sato puna dibbacakkhūni uppannānī’ti, etampi vacanaṁ sakasaṭaṁ saniggahaṁ sadosaṁ ‘hetusamugghāte ahetusmiṁ avatthusmiṁ natthi dibbacakkhussa uppādo’ti sutte vuttaṁ, yadi, bhante nāgasena, sivirājena yācakassa cakkhūni dinnāni, tena hi ‘puna dibbacakkhūni uppannānī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā;
yadi dibbacakkhūni uppannāni, tena hi ‘sivirājena yācakassa cakkhūni dinnānī’ti yaṁ vacanaṁ, tampi micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho gaṇṭhitopi gaṇṭhitaro veṭhatopi veṭhataro gahanatopi gahanataro, so tavānuppatto, tattha chandamabhijanehi nibbāhanāya paravādānaṁ niggahāyā”ti.
“Dinnāni, mahārāja, sivirājena yācakassa cakkhūni, tattha mā vimatiṁ uppādehi, puna dibbāni ca cakkhūni uppannāni, tatthāpi mā vimatiṁ janehī”ti.
“Api nu kho, bhante nāgasena, hetusamugghāte ahetusmiṁ avatthusmiṁ dibbacakkhu uppajjatī”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, ettha kāraṇaṁ, yena kāraṇena hetusamugghāte ahetusmiṁ avatthusmiṁ dibbacakkhu uppajjati, iṅgha tāva kāraṇena maṁ saññāpehī”ti?
“Kiṁ pana, mahārāja, atthi loke saccaṁ nāma, yena saccavādino saccakiriyaṁ karontī”ti?
“Āma, bhante, atthi loke saccaṁ nāma, saccena, bhante nāgasena, saccavādino saccakiriyaṁ katvā devaṁ vassāpenti, aggiṁ nibbāpenti, visaṁ paṭihananti, aññampi vividhaṁ kattabbaṁ karontī”ti.
“Tena hi, mahārāja, yujjati sameti sivirājassa saccabalena dibbacakkhūni uppannānīti, saccabalena, mahārāja, avatthusmiṁ dibbacakkhu uppajjati, saccaṁyeva tattha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāya.
Yathā, mahārāja, ye keci sattā saccamanugāyanti ‘mahāmegho pavassatū’ti, tesaṁ saha saccamanugītena mahāmegho pavassati, api nu kho, mahārāja, atthi ākāse vassahetu sannicito ‘yena hetunā mahāmegho pavassatī’”ti?
“Na hi, bhante, saccaṁyeva tattha hetu bhavati mahato meghassa pavassanāyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, natthi tassa pakatihetu, saccaṁ yevettha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāyāti.
Yathā vā pana, mahārāja, ye keci sattā saccamanugāyanti ‘jalitapajjalitamahāaggikkhandho paṭinivattatū’ti, tesaṁ saha saccamanugītena jalitapajjalitamahāaggikkhandho khaṇena paṭinivattati.
Api nu kho, mahārāja, atthi tasmiṁ jalitapajjalite mahāaggikkhandhe hetu sannicito ‘yena hetunā jalitapajjalitamahāaggikkhandho khaṇena paṭinivattatī’”ti?
“Na hi, bhante, saccaṁyeva tattha vatthu hoti tassa jalitapajjalitassa mahāaggikkhandhassa khaṇena paṭinivattanāyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, natthi tassa pakatihetu, saccaṁ yevettha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāyāti.
Yathā vā pana, mahārāja, ye keci sattā saccamanugāyanti ‘visaṁ halāhalaṁ agadaṁ bhavatū’ti.
Tesaṁ saha saccamanugītena visaṁ halāhalaṁ khaṇena agadaṁ bhavati, api nu kho, mahārāja, atthi tasmiṁ halāhalavise hetu sannicito ‘yena hetunā visaṁ halāhalaṁ khaṇena agadaṁ bhavatī’”ti?
“Na hi, bhante, saccaṁyeva tattha hetu bhavati visassa halāhalassa khaṇena paṭighātāyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, vinā pakatihetuṁ saccaṁ yevettha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāyāti.
Catunnampi, mahārāja, ariyasaccānaṁ paṭivedhāya natthaññaṁ vatthu, saccaṁ vatthuṁ katvā cattāri ariyasaccāni paṭivijjhantīti.
Atthi, mahārāja, cīnavisaye cīnarājā, so mahāsamudde kīḷitukāmo catumāse catumāse saccakiriyaṁ katvā saha rathena antomahāsamudde yojanaṁ pavisati, tassa rathasīsassa purato purato mahāvārikkhandho paṭikkamati, nikkhantassa puna ottharati, api nu kho, mahārāja, so mahāsamuddo sadevamanussenapi lokena pakatikāyabalena sakkā paṭikkamāpetun”ti?
“Atiparittakepi, bhante, taḷāke udakaṁ na sakkā sadevamanussenapi lokena pakatikāyabalena paṭikkamāpetuṁ, kiṁ pana mahāsamudde udakan”ti?
“Imināpi, mahārāja, kāraṇena saccabalaṁ ñātabbaṁ ‘natthi taṁ ṭhānaṁ, yaṁ saccena na pattabban’ti.
Nagare, mahārāja, pāṭaliputte asoko dhammarājā sanegamajānapadaamaccabhaṭabalamahāmattehi parivuto gaṅgaṁ nadiṁ navasalilasampuṇṇaṁ samatitthikaṁ sambharitaṁ pañcayojanasatāyāmaṁ yojanaputhulaṁ sandamānaṁ disvā amacce evamāha—
‘atthi koci, bhaṇe, samattho, yo imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpetun’ti.
Amaccā āhaṁsu ‘dukkaraṁ, devā’ti.
Tasmiṁyeva gaṅgākūle ṭhitā bandhumatī nāma gaṇikā assosi raññā kira evaṁ vuttaṁ—
‘sakkā nu kho imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpetun’ti, sā evamāha—
‘ahañhi nagare pāṭaliputte gaṇikā rūpūpajīvinī antimajīvikā, mama tāva rājā saccakiriyaṁ passatū’ti.
Atha sā saccakiriyaṁ akāsi, saha tassā saccakiriyāya khaṇena sā mahāgaṅgā gaḷagaḷāyantī paṭisotaṁ sandittha mahato janakāyassa passato.
Atha rājā gaṅgāya āvaṭṭaūmivegajanitaṁ halāhalasaddaṁ sutvā vimhito acchariyabbhutajāto amacce evamāha—
‘kissāyaṁ, bhaṇe, mahāgaṅgā paṭisotaṁ sandatī’ti?
‘Bandhumatī, mahārāja, gaṇikā tava vacanaṁ sutvā saccakiriyaṁ akāsi, tassā saccakiriyāya mahāgaṅgā uddhammukhā sandatī’ti.
Atha saṁviggahadayo rājā turitaturito sayaṁ gantvā taṁ gaṇikaṁ pucchi—
‘saccaṁ kira, je, tayā saccakiriyāya ayaṁ gaṅgā paṭisotaṁ sandāpitā’ti?
‘Āma, devā’ti.
Rājā āha—
‘kiṁ te tattha balaṁ atthi, ko vā te vacanaṁ ādiyati anummatto, kena tvaṁ balena imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpesī’ti?
Sā āha—
‘saccabalenāhaṁ, mahārāja, imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpesin’ti.
Rājā āha—
‘kiṁ te saccabalaṁ atthi coriyā dhuttiyā asatiyā chinnikāya pāpiyā bhinnasīlāya hiriatikkantikāya andhajanapalobhikāyā’ti.
‘Saccaṁ, mahārāja, tādisikā ahaṁ, tādisikāyapi me, mahārāja, saccakiriyā atthi, yāyāhaṁ icchamānā sadevakampi lokaṁ parivatteyyan’ti.
Rājā āha—
‘katamā pana sā hoti saccakiriyā, iṅgha maṁ sāvehī’ti.
‘Yo me, mahārāja, dhanaṁ deti khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā añño vā koci, tesaṁ samakaṁyeva upaṭṭhahāmi, “khattiyo”ti viseso natthi, “suddo”ti atimaññanā natthi, anunayappaṭighavippamuttā dhanassāmikaṁ paricarāmi, esā me, deva, saccakiriyā, yāyāhaṁ imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpesin’ti.
Itipi, mahārāja, sacce ṭhitā na kiñci atthaṁ na vindanti.
Dinnāni ca, mahārāja, sivirājena yācakassa cakkhūni, dibbacakkhūni ca uppannāni, tañca saccakiriyāya.
Yaṁ pana sutte vuttaṁ—
‘maṁsacakkhusmiṁ naṭṭhe ahetusmiṁ avatthusmiṁ natthi dibbacakkhussa uppādo’ti.
Taṁ bhāvanāmayaṁ cakkhuṁ sandhāya vuttaṁ, evametaṁ, mahārāja, dhārehī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho, suniddiṭṭho niggaho, sumadditā paravādā, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Sivirājacakkhudānapañho pañcamo.
PTS vp En 179 PTS cs 42 ‘Venerable Nāgasena, your people say thus: “King Sivi gave his eyes to the man who begged them of him, and when he had thus become blind, new eyes were given to him from heaven.” This statement is unpalatable, it lays its speaker open to rebuke, it is faulty. For it is said in the Sutta: “When the cause has been utterly destroyed, when there is no longer any cause, any basis left, then the divine eye cannot arise.” So if he gave his eyes away, the statement that he received new (divine) ones must be false: and if divine eyes arose to him; then the statement that he gave his eyes away must be false. This dilemma too is a double-pointed one, more knotty than a knot, more piercing than an arrow, more confusing than a jungle. It is now put to you. Rouse up in yourself the desire to, accomplish the task that is set to you, to the refutation of the adversaries!’ PTS vp En 180
‘King Sivi gave his eyes away, O king. Harbour no doubt on that point. And in stead thereof divine eyes were produced for him. Neither on that point should you harbour doubt.’
‘But then, Nāgasena, can the divine eye arise when the cause of it has been utterly destroyed, when no cause for it, no basis, remains?’
‘Certainly not, O king.’
‘What then is the reason PTS vp Pali 120 by which in this case it arose, notwithstanding that its cause had been utterly destroyed, and no cause for it, no basis, remained. Come now. Convince me of the reason of this thing.’
PTS cs 43 ‘What then, O king? Is there in the world such a thing as Truth, by the asseveration of which true believers can perform the Act of Truth ?’
‘Yes, Lord, there is. And by it true believers make the rain to fall, and fire to go out, and ward off the effects of poison, and accomplish many other things they want to do.’
‘Then, great king, that fits the case, that meets it on all fours. It was by the power of Truth that those divine eyes were produced for Sivi the king. By the power of the Truth the divine eye arose when no other cause was present, for the Truth itself was, in that case, the cause of its production. Suppose, PTS vp En 181 O king, any Siddha (accomplished one) on intoning a charm, and saying: “Let a mighty rain now fall!” were to bring about a heavy rainfall by the intoning of his charm—would there in that case be any cause for rain accumulated in the sky by which the rain could be brought about?’
‘No, Sir. The charm itself would be the cause.’
‘Just so, great king, in the case put. There would be no ordinary cause. The Truth itself would be sufficient reason for the growth of the divine eye!’
PTS cs 44 ‘Now suppose, O king, a Siddha were to intone a charm, and say: “Now let the mighty blazing, raging mass of fire go back!” and the moment the charm were repeated it were to retreat—would there be any cause laid by which would work that result?’
‘No, Sir. The charm itself would be the cause.’
‘Just so, great king, would there in our case be no ordinary cause. The power of the Truth would be sufficient cause in itself!’
PTS cs 45 ‘Now suppose, O king, one of those Siddhas were to intone a charm, PTS vp Pali 121 and were then to say: “Let this malignant poison become as a healing drug!” and the moment the charm were repeated that would be so—would there be any cause in reserve for that effect to be produced?’
‘Certainly not, Sir. The charm itself would cause the warding off of that malignant poison.’
‘Just so, great king, without any ordinary cause the Truth itself was, in king Sivi’s case, a sufficient reason for the reproduction of his eyes.’ PTS vp En 182
PTS cs 46 ‘Now there is no other cause, O king, for the attainment of the four Noble Truths. It is only by means of an Act of Truth that they are attained. In the land of China, O king, there is a king of China, who when he wants to charm the great ocean, performs at intervals of four months a solemn Act of Truth, and then on his royal chariot drawn by lions, he enters a league’s distance into the great ocean. Then in front of the head of his chariot the mighty waves roll back, and when he returns they flow once more over the spot. But could the ocean be so drawn back by the ordinary bodily power of all gods and men combined?’
‘Sir, even the water in a small tank could not be so made to retire, how much less the waters of the great ocean!’
‘By this know then the force of Truth. There is no place to which it does not reach.’
PTS cs 47 ‘When Asoka the righteous ruler, O king, as he stood one day at the city of Pātaliputta in the midst of the townsfolk and the country people, of his officers and his servants, and his ministers of state, beheld the Ganges river as it rolled along filled up by freshets from the hills, full to the brim and overflowing—that mighty stream five hundred leagues in length, and a league in breadth—he said to his officers: “Is there any one, my good friends, who is able to make this great Ganges flow backwards and up stream?”
“‘Nay, Sire, impossible,” said they.
‘Now a certain courtesan, Bindumatī by name, was in the crowd there at the river side, PTS vp Pali 122 and she heard people repeat the question that the king had asked. Then she said to herself: “Here am I, a PTS vp En 183 harlot, in this city of Pāṭaliputta, by the sale of my body do I gain my livelihood, I follow the meanest of vocations. Let the king behold the power of an Act of Truth performed even by such as I.” And she performed an Act of Truth. And that moment the mighty Ganges, roaring and raging, rolled back, up stream, in the sight of all the people!
‘Then when the king heard the din and the noise of the movement of the waves of the whirlpools of the mighty Ganges, amazed, and struck with awe and wonder, he said to his officers: “How is this, that the great Ganges is flowing backwards?”
‘And they told him what had happened. Then filled with emotion the king went himself in haste and asked the courtesan: “Is it true what they say, that it is by your Act of Truth that this Ganges has been forced to flow backwards?”
“‘Yes, Sire,” said she.
‘And the king asked: “How have you such power in the matter? Or who is it who takes your words to heart (and carries them out)? By what authority is it that you, insignificant as you are, have been able to make this mighty river flow backwards?”
‘And she replied: “It is by the power of Truth, great king.”
‘But the king said: “How can that power be in you—you, a woman of wicked and loose life, PTS vp En 184 devoid of virtue, under no restraint, sinful, who have overstepped all limits, and are full of transgression, and live on the plunder of fools? “
“‘It is true, O king, what you say. That is just the kind of creature I am. But even in such a one as I so great is the power of the Act of Truth that I could turn the whole world of gods and men upside down by it.”
‘Then the king said: “What is this Act of Truth? Come now, let me hear about it.”
“‘Whosoever, O king, gives me gold—be he a noble or a brahman or a tradesman or a servant—I regard them all alike. When I see he is a noble I make no distinction in his favour. If I know him to be a slave I despise him not. Free alike from fawning and from dislike do I do service to him who has bought me. This, your Majesty, is the basis of the Act of Truth by the force of which I turned the Ganges back.”’
PTS cs 48 ‘Thus, O king, is it that there is nothing which those who are stedfast to the truth may not enjoy. And so king Sivi gave his eyes away to him who begged them of him, PTS vp Pali 123 and he received eyes from heaven, and that happened by his Act of Truth. But what is said in the Sutta that when the eye of flesh is destroyed, and the cause of it, the basis of it, is removed, then can no divine eye arise, that is only said of the eye, the insight, that arises out of contemplation. And thus, O king, should you take it.’
‘Well said, Nāgasena! You have admirably PTS vp En 185 solved the dilemma I put to you; you have rightly explained the point in which I tried to prove you wrong; you have thoroughly overcome the adversary. The thing is so, and I accept it thus.’
Here ends the dilemma as to king Sivi’s Act of Truth.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài đã nói như vầy: ‘Các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin, khi đức vua đã bị mù thì các thiên nhãn đã được tạo ra lại.’ Lời nói này cũng có sự sái quấy, có sự bắt bẻ, có khuyết điểm. Điều đã được nói ở trong Kinh là: ‘Khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng, thì không có sự tạo ra thiên nhãn.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin, như thế thì lời nói rằng: ‘Các thiên nhãn đã được tạo ra lại’ là sai trái. Nếu các thiên nhãn đã được tạo ra, như thế thì lời nói rằng: ‘Các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, bị thắt lại còn hơn nút thắt, bị xoắn lại còn hơn vật xoắn, bị rối rắm còn hơn bụi rậm, nó được dành cho ngài. Ở đây, xin ngài hãy khởi lên ước muốn về việc giải quyết vì sự bắt bẻ của các học thuyết khác.”
BJT 2“Tâu đại vương, các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin. Đại vương chớ khởi lên sự phân vân về trường hợp ấy. Và các thiên nhãn đã được tạo ra lại. Đại vương cũng chớ này sanh sự phân vân về trường hợp ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, phải chăng khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng thì thiên nhãn cũng được tạo ra?”
“Tâu đại vương, không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì ở đây điều gì là lý do mà với lý do ấy thiên nhãn lại được tạo ra khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng? Vậy ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
BJT 3“Tâu đại vương, có chăng ở thế gian cái gọi là sự chân thật mà những người có lời nói chân thật về điều ấy tạo ra sự phát nguyện chân thật?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có cái gọi là sự chân thật ở thế gian. Thưa ngài Nāgasena, những người nói lời chân thật với sự chân thật tạo ra sự phát nguyện chân thật khiến cho trời đổ mưa, khiến cho lửa bị dập tắt, làm tiêu tan chất độc, và còn tạo ra việc có thể làm các loại khác nữa.”
“Tâu đại vương, như thế thì nó liên quan, nó phù hợp với việc các thiên nhãn đã được tạo ra cho đức vua Sivi là nhờ vào năng lực của sự chân thật. Tâu đại vương, nhờ vào năng lực của sự chân thật mà thiên nhãn đã được tạo ra khi không có nền tảng. Ở đây, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn. Tâu đại vương, giống như những vị đạo sĩ nào đó cầu khấn lời chân thật rằng: ‘Xin cho cơn mưa lớn hãy đổ xuống,’ cùng với việc đã cầu khấn lời chân thật của những người ấy, cơn mưa lớn đổ xuống. Tâu đại vương, phải chăng có nhân của cơn mưa đã hội tụ lại ở khoảng không mà với nhân ấy cơn mưa lớn đổ xuống?”
“Thưa ngài, không đúng. Trong trường hợp ấy, chính sự chân thật là nhân cho việc đổ xuống của cơn mưa lớn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ấy không có nhân bình thường. Trong trường hợp này, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn.”
BJT 4“Tâu đại vương, hoặc là giống như việc những vị đạo sĩ nào đó cầu khấn lời chân thật rằng: ‘Xin cho khối lửa lớn đã bộc phát hãy quay trở lại;’ cùng với việc đã cầu khấn lời chân thật của những người ấy, khối lửa lớn đã bộc phát tức thời quay trở lại. Tâu đại vương, phải chăng ở khối lửa lớn đã bộc phát ấy có nhân đã được hội tụ lại, mà do nhân ấy khối lửa lớn đã bộc phát tức thời quay trở lại?”
“Thưa ngài, không đúng. Chính sự chân thật là nền tảng cho việc tức thời quay trở lại của khối lửa lớn đã bốc phát ấy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ấy không có nhân bình thường. Trong trường hợp này, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn.”
BJT 5“Tâu đại vương, hoặc là giống như việc những vị đạo sĩ nào đó cầu khấn lời chân thật rằng: ‘Xin cho chất độc dữ dội trở thành thuốc chữa bệnh.’ Tâu đại vương, phải chăng ở chất độc dữ dội có nền tảng đã hội tụ lại, mà với nền tảng ấy chất độc dữ dội trở thành thuốc chữa bệnh?”
“Thưa ngài, không đúng. Trong trường hợp ấy, chính sự chân thật là nguyên nhân cho việc tức thời tiêu diệt chất độc dữ dội.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong trường hợp này, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn, không phải nhân bình thường.”
“Tâu đại vương, không có nền tảng nào khác cho việc thâm nhập bốn Chân Lý Cao Thượng. Bốn Chân Lý Cao Thượng được thâm nhập sau khi đã đặt nền tảng ở sự chân thật. Tâu đại vương, có đức vua Cīna ở khu vực Cīna. Đức vua có ước muốn tiến hành việc cúng tế ở đại dương nên đã thực hiện sự phát nguyện chân thật vào mỗi bốn tháng, rồi cùng với chiếc xe tiến vào trong đại dương một do-tuần. Khối lượng nước vĩ đại đi thụt lùi ở phía trước đầu chiếc xe của đức vua, đến khi đức vua đã vượt qua thì bao trùm lại. Tâu đại vương, phải chăng thế gian có cả chư Thiên và nhân loại, với năng lực của cơ thể bình thường, có thể khiến cho đại dương ấy đi thụt lùi?”
“Thưa ngài, thế gian có cả chư Thiên và nhân loại, với năng lực của cơ thể bình thường, cũng không thể khiến cho nước ở hồ nước vô cùng nhỏ đi thụt lùi, thì làm gì được đối với nước ở đại dương?”
BJT 6“Tâu đại vương, cũng vì lý do này mà năng lực của sự chân thật được biết đến như vầy: ‘Không có nơi nào mà sự chân thật không thể đạt đến.’
Tâu đại vương, đức vua công chính Asoka ở thành phố Pāṭaliputta, được tùy tùng bởi các thị dân, dân chúng, các viên chức, nhân công, binh lính, và các quan đại thần, sau khi nhìn thấy sông Gaṅgā tràn đầy nước mới, ngập bờ, trải rộng có bề dài năm trăm do-tuần, bề ngang một do-tuần, đang trôi chảy, nên đã nói với các quan viên rằng: ‘Này các khanh, có ai có khả năng làm cho sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng không?’ Các quan viên đã nói rằng: ‘Tâu bệ hạ, là việc khó làm.’ Có cô kỹ nữ tên Bindumatī đứng ở ngay tại bờ sông Gaṅgā ấy đã nghe rằng: ‘Nghe nói đức vua đã nói như vầy:—Có thể làm cho sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng không?’ Cô ấy đã nói như vầy: ‘Chính thiếp là người kỹ nữ ở thành phố lớn Pāṭaliputta, có cuộc sống nhờ vào sắc đẹp, là cách sinh nhai tồi tệ nhất. Mong rằng đức vua hãy chứng kiến sự phát nguyện chân thật của thiếp.’ Rồi cô ấy đã thực hiện sự phát nguyện chân thật. Vào giây phút của sự phát nguyện chân thật của cô ấy, con sông Gaṅgā vĩ đại ấy, trong lúc gầm lên tiếng rì rào, đã chảy ngược dòng cho đám đông người chứng kiến. Khi ấy, nghe được tiếng ầm ĩ tạo ra bởi tốc độ của sóng nước bị xoáy tròn, đức vua đã có sự ngạc nhiên được sanh lên do điều kỳ diệu phi thường, nên đã nói với các quan viên rằng: ‘Này các khanh, do người nào mà con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng?’ ‘Tâu đại vương, cô kỹ nữ Bindumatī sau khi nghe lời nói của đại vương đã thực hiện sự phát nguyện chân thật. Do sự phát nguyện chân thật của cô ấy mà con sông Gaṅgā chảy về phía thượng nguồn.’
Khi ấy, có tâm bị chấn động, đức vua đã đích thân đi đến vô cùng vội vã và đã hỏi cô kỹ nữ ấy rằng: ‘Này cô gái, nghe nói do sự phát nguyện chân thật của cô mà con sông Gaṅgā này chảy ngược dòng, có đúng không vậy?’ ‘Tâu bệ hạ, đúng vậy.’ Đức vua đã nói rắng: ‘Cô có năng lực gì về việc ấy? Ai mà tin lời nói của cô, nếu không bị điên khùng? Do năng lực gì mà cô đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng?’ Cô ấy đã nói rằng: ‘Tâu đại vương, do năng lực của sự chân thật mà thiếp đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng.’ Đức vua đã nói rắng: ‘Năng lực của sự chân thật gì có ở nơi cô, khi cô là kẻ trộm, hạng người vô lại, không trong sạch, lường gạt, độc ác, bóc lột những kẻ mê muội?’ ‘Tâu đại vương, sự thật thì thiếp là người như thế ấy.
Tâu đại vương, nếu năng lực của sự chân thật có ở nơi thiếp, thì với điều ấy, trong khi mong muốn, thiếp cũng có thể xoay chuyển thế gian có cả chư Thiên.’ Đức vua đã nói rắng: ‘Vậy thì sự phát nguyện chân thật ấy là điều gì?’ ‘Vậy thì xin đại vương hãy lắng nghe thiếp. Tâu đại vương, người nào dầu là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hoặc thương buôn, hay nô lệ, hoặc là bất cứ ai ban cho thiếp của cải, thì thiếp phục vụ những người ấy đều bình đẳng. Là ‘Sát-đế-lỵ’ không có gì đặc biệt. Là ‘nô lệ’ không có gì khinh chê. Thiếp hầu hạ người có của cải, thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu bệ hạ, điều ấy là sự phát nguyện chân thật của thiếp, nhờ nó mà thiếp đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng.’
Tâu đại vương, những người đứng vững ở sự chân thật cũng như thế, không có bất cứ ý nghĩa nào mà họ không biết. Tâu đại vương, các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin, và các thiên nhãn đã được tạo ra lại. Và điều ấy là do sự phát nguyện chân thật. Điều đã được nói ở trong Kinh là: ‘Khi nhục nhãn đã bị hư hoại, khi không có nhân, khi không có nền tảng, thì không có sự tạo ra của thiên nhãn,’ điều ấy được nói liên quan đến con mắt có vật liệu là sự tu tập. Tâu đại vương, xin đại vương hãy ghi nhớ điều này như thế.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ, sự bắt bẻ đã khéo được giải thích, các học thuyết khác đã khéo được nghiền nát. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự bố thí mắt của đức vua Sivi là thứ năm.
“Bhante nāgasena, tumhe evaṁ bhaṇatha—
‘sivirājena yācakassa cakkhūni dinnāni, andhassa sato puna dibbacakkhūni uppannānī’ti, etampi vacanaṁ sakasaṭaṁ saniggahaṁ sadosaṁ ‘hetusamugghāte ahetusmiṁ avatthusmiṁ natthi dibbacakkhussa uppādo’ti sutte vuttaṁ, yadi, bhante nāgasena, sivirājena yācakassa cakkhūni dinnāni, tena hi ‘puna dibbacakkhūni uppannānī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā;
yadi dibbacakkhūni uppannāni, tena hi ‘sivirājena yācakassa cakkhūni dinnānī’ti yaṁ vacanaṁ, tampi micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho gaṇṭhitopi gaṇṭhitaro veṭhatopi veṭhataro gahanatopi gahanataro, so tavānuppatto, tattha chandamabhijanehi nibbāhanāya paravādānaṁ niggahāyā”ti.
“Dinnāni, mahārāja, sivirājena yācakassa cakkhūni, tattha mā vimatiṁ uppādehi, puna dibbāni ca cakkhūni uppannāni, tatthāpi mā vimatiṁ janehī”ti.
“Api nu kho, bhante nāgasena, hetusamugghāte ahetusmiṁ avatthusmiṁ dibbacakkhu uppajjatī”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, ettha kāraṇaṁ, yena kāraṇena hetusamugghāte ahetusmiṁ avatthusmiṁ dibbacakkhu uppajjati, iṅgha tāva kāraṇena maṁ saññāpehī”ti?
“Kiṁ pana, mahārāja, atthi loke saccaṁ nāma, yena saccavādino saccakiriyaṁ karontī”ti?
“Āma, bhante, atthi loke saccaṁ nāma, saccena, bhante nāgasena, saccavādino saccakiriyaṁ katvā devaṁ vassāpenti, aggiṁ nibbāpenti, visaṁ paṭihananti, aññampi vividhaṁ kattabbaṁ karontī”ti.
“Tena hi, mahārāja, yujjati sameti sivirājassa saccabalena dibbacakkhūni uppannānīti, saccabalena, mahārāja, avatthusmiṁ dibbacakkhu uppajjati, saccaṁyeva tattha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāya.
Yathā, mahārāja, ye keci sattā saccamanugāyanti ‘mahāmegho pavassatū’ti, tesaṁ saha saccamanugītena mahāmegho pavassati, api nu kho, mahārāja, atthi ākāse vassahetu sannicito ‘yena hetunā mahāmegho pavassatī’”ti?
“Na hi, bhante, saccaṁyeva tattha hetu bhavati mahato meghassa pavassanāyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, natthi tassa pakatihetu, saccaṁ yevettha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāyāti.
Yathā vā pana, mahārāja, ye keci sattā saccamanugāyanti ‘jalitapajjalitamahāaggikkhandho paṭinivattatū’ti, tesaṁ saha saccamanugītena jalitapajjalitamahāaggikkhandho khaṇena paṭinivattati.
Api nu kho, mahārāja, atthi tasmiṁ jalitapajjalite mahāaggikkhandhe hetu sannicito ‘yena hetunā jalitapajjalitamahāaggikkhandho khaṇena paṭinivattatī’”ti?
“Na hi, bhante, saccaṁyeva tattha vatthu hoti tassa jalitapajjalitassa mahāaggikkhandhassa khaṇena paṭinivattanāyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, natthi tassa pakatihetu, saccaṁ yevettha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāyāti.
Yathā vā pana, mahārāja, ye keci sattā saccamanugāyanti ‘visaṁ halāhalaṁ agadaṁ bhavatū’ti.
Tesaṁ saha saccamanugītena visaṁ halāhalaṁ khaṇena agadaṁ bhavati, api nu kho, mahārāja, atthi tasmiṁ halāhalavise hetu sannicito ‘yena hetunā visaṁ halāhalaṁ khaṇena agadaṁ bhavatī’”ti?
“Na hi, bhante, saccaṁyeva tattha hetu bhavati visassa halāhalassa khaṇena paṭighātāyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, vinā pakatihetuṁ saccaṁ yevettha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāyāti.
Catunnampi, mahārāja, ariyasaccānaṁ paṭivedhāya natthaññaṁ vatthu, saccaṁ vatthuṁ katvā cattāri ariyasaccāni paṭivijjhantīti.
Atthi, mahārāja, cīnavisaye cīnarājā, so mahāsamudde kīḷitukāmo catumāse catumāse saccakiriyaṁ katvā saha rathena antomahāsamudde yojanaṁ pavisati, tassa rathasīsassa purato purato mahāvārikkhandho paṭikkamati, nikkhantassa puna ottharati, api nu kho, mahārāja, so mahāsamuddo sadevamanussenapi lokena pakatikāyabalena sakkā paṭikkamāpetun”ti?
“Atiparittakepi, bhante, taḷāke udakaṁ na sakkā sadevamanussenapi lokena pakatikāyabalena paṭikkamāpetuṁ, kiṁ pana mahāsamudde udakan”ti?
“Imināpi, mahārāja, kāraṇena saccabalaṁ ñātabbaṁ ‘natthi taṁ ṭhānaṁ, yaṁ saccena na pattabban’ti.
Nagare, mahārāja, pāṭaliputte asoko dhammarājā sanegamajānapadaamaccabhaṭabalamahāmattehi parivuto gaṅgaṁ nadiṁ navasalilasampuṇṇaṁ samatitthikaṁ sambharitaṁ pañcayojanasatāyāmaṁ yojanaputhulaṁ sandamānaṁ disvā amacce evamāha—
‘atthi koci, bhaṇe, samattho, yo imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpetun’ti.
Amaccā āhaṁsu ‘dukkaraṁ, devā’ti.
Tasmiṁyeva gaṅgākūle ṭhitā bandhumatī nāma gaṇikā assosi raññā kira evaṁ vuttaṁ—
‘sakkā nu kho imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpetun’ti, sā evamāha—
‘ahañhi nagare pāṭaliputte gaṇikā rūpūpajīvinī antimajīvikā, mama tāva rājā saccakiriyaṁ passatū’ti.
Atha sā saccakiriyaṁ akāsi, saha tassā saccakiriyāya khaṇena sā mahāgaṅgā gaḷagaḷāyantī paṭisotaṁ sandittha mahato janakāyassa passato.
Atha rājā gaṅgāya āvaṭṭaūmivegajanitaṁ halāhalasaddaṁ sutvā vimhito acchariyabbhutajāto amacce evamāha—
‘kissāyaṁ, bhaṇe, mahāgaṅgā paṭisotaṁ sandatī’ti?
‘Bandhumatī, mahārāja, gaṇikā tava vacanaṁ sutvā saccakiriyaṁ akāsi, tassā saccakiriyāya mahāgaṅgā uddhammukhā sandatī’ti.
Atha saṁviggahadayo rājā turitaturito sayaṁ gantvā taṁ gaṇikaṁ pucchi—
‘saccaṁ kira, je, tayā saccakiriyāya ayaṁ gaṅgā paṭisotaṁ sandāpitā’ti?
‘Āma, devā’ti.
Rājā āha—
‘kiṁ te tattha balaṁ atthi, ko vā te vacanaṁ ādiyati anummatto, kena tvaṁ balena imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpesī’ti?
Sā āha—
‘saccabalenāhaṁ, mahārāja, imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpesin’ti.
Rājā āha—
‘kiṁ te saccabalaṁ atthi coriyā dhuttiyā asatiyā chinnikāya pāpiyā bhinnasīlāya hiriatikkantikāya andhajanapalobhikāyā’ti.
‘Saccaṁ, mahārāja, tādisikā ahaṁ, tādisikāyapi me, mahārāja, saccakiriyā atthi, yāyāhaṁ icchamānā sadevakampi lokaṁ parivatteyyan’ti.
Rājā āha—
‘katamā pana sā hoti saccakiriyā, iṅgha maṁ sāvehī’ti.
‘Yo me, mahārāja, dhanaṁ deti khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā añño vā koci, tesaṁ samakaṁyeva upaṭṭhahāmi, “khattiyo”ti viseso natthi, “suddo”ti atimaññanā natthi, anunayappaṭighavippamuttā dhanassāmikaṁ paricarāmi, esā me, deva, saccakiriyā, yāyāhaṁ imaṁ mahāgaṅgaṁ paṭisotaṁ sandāpesin’ti.
Itipi, mahārāja, sacce ṭhitā na kiñci atthaṁ na vindanti.
Dinnāni ca, mahārāja, sivirājena yācakassa cakkhūni, dibbacakkhūni ca uppannāni, tañca saccakiriyāya.
Yaṁ pana sutte vuttaṁ—
‘maṁsacakkhusmiṁ naṭṭhe ahetusmiṁ avatthusmiṁ natthi dibbacakkhussa uppādo’ti.
Taṁ bhāvanāmayaṁ cakkhuṁ sandhāya vuttaṁ, evametaṁ, mahārāja, dhārehī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho, suniddiṭṭho niggaho, sumadditā paravādā, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Sivirājacakkhudānapañho pañcamo.