DAO ĐỘNG DỮ DỘI CỦA TRÁI ĐẤT
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, có tám nhân tám duyên này đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất.’ Đây là lời nói không thiếu sót, đây là lời nói đầy đủ, đây là lời nói không thay đổi, không có nhân thứ chín nào khác đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất. Thưa ngài Nāgasena, nếu có nhân thứ chín khác đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất, đức Thế Tôn cũng sẽ nói đến nhân ấy. Và thưa ngài Nāgasena, bởi vì không có nhân thứ chín nào khác đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất, vì thế đã không được đức Thế Tôn đề cập đến. Và có nhân thứ chín này đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất được thấy là đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara. Thưa ngài Nāgasena, nếu chỉ có tám nhân tám duyên đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất, như thế thì lời nói ‘đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara’ là sai trái. Nếu đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, như thế thì lời nói ‘chỉ có tám nhân tám duyên đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, vi tế, khó tháo gỡ, gây tăm tối, và sâu xa. Nó được dành cho ngài. Điều này không thể trả lời bởi người nào khác có trí tuệ nhỏ nhoi, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy.”
“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, có tám nhân tám duyên này đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất.’ Còn đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, tuy nhiên điều ấy là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Vì thế không được tính vào tám nhân.
BJT 2Tâu đại vương, giống như ở thế gian chỉ có ba loại mưa được tính là ‘(mưa) thuộc mùa mưa, (mưa) thuộc mùa lạnh, và cơn mưa rào.’ Nếu có cơn mưa khác không thuộc vào ba loại này mà đổ mưa, thì cơn mưa ấy không được tính vào các loại mưa đã được công nhận, và chỉ được xem là ‘cơn mưa sái mùa.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, điều này là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Việc ấy không được tính vào tám nhân.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như năm trăm con sông chảy ra từ núi Hi-mã-lạp. Tâu đại vương, trong số năm trăm con sông ấy, chỉ có mười con sông được tính vào việc tính đếm các con sông, tức là: sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, Sindhu, Sarassatī, Vetravatī, Vitatthā, Candabhāgā. Các con sông còn lại không được tính vào việc tính đếm các con sông. Vì lý do gì? Các con sông ấy không có nước thường xuyên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, điều này là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Việc ấy không được tính vào tám nhân.
BJT 4Tâu đại vương, hoặc là giống như các quan đại thần của đức vua thì cả trăm người, hai trăm người. Trong số những người ấy chỉ có sáu là được tính vào việc tính đếm các quan đại thần, tức là: tướng quân, quan tế tự, quan xử án, quan thủ khố, quan giữ lọng, quan giữ gươm. Chỉ những người này được tính vào việc tính đếm các quan đại thần. Vì lý do gì? Vì trạng thái gắn bó với các phẩm chất của đức vua. Còn tất cả những người còn lại không được tính đếm mà chỉ được xem là ‘quan đại thần.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, điều này là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Việc ấy không được tính vào tám nhân.
Tâu đại vương, phải chăng có được nghe là trong thời hiện tại nghiệp của những việc làm hướng thượng đã làm ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng là có cảm thọ lạc trong hiện tại, và danh tiếng của những việc này vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có được nghe là trong thời hiện tại nghiệp của những việc làm hướng thượng đã làm ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng là có cảm thọ lạc trong hiện tại, và danh tiếng của những việc này vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại. Những người ấy là bảy người.”
“Tâu đại vương, là ai và ai vậy?”
“Thưa ngài, là ‘người làm tràng hoa Sumana, Bà-la-môn Ekasāṭaka, người làm công Puṇṇa, hoàng hậu Mallikā, hoàng hậu Gopālamātā, cận sự nữ Suppiyā, và nữ tỳ Puṇṇā.’ Bảy người này có cảm thọ lạc trong hiện tại, và danh tiếng của những người này vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại.”
“Vậy có được nghe những người khác trong thời quá khứ đã đi đến cung trời Đạo Lợi bằng chính thân thể và vóc dáng ấy của con người?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có được nghe.”
“Tâu đại vương, là ai và ai vậy?”
“Là ‘vị Càn-thát-bà Guttila, đức vua Sādhīna, đức vua Nimī, và đức vua Mandhātā.’ Bốn người này được nghe là đã đi đến cung trời Đạo Lợi bằng thân thể và vóc dáng của con người. Được nghe rằng việc đã làm tốt hoặc đã làm xấu đã được làm lâu lắm rồi.”
“Tâu đại vương, phải chăng đại vương đã được nghe trước đây vào thời quá khứ xa xăm hoặc trong thời hiện tại xa xăm đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra?”
BJT 6“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, tôi đã có sự truyền thừa, sự thành tựu, sự thuộc lòng Kinh điển, sự lắng nghe, sự học tập, năng lực, sự mong mỏi lắng nghe, sự vấn hỏi, sự hầu hạ các vị thầy, tuy nhiên tôi cũng chưa từng được nghe trước đây đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra, ngoại trừ việc bố thí cao quý của vị vua kiệt xuất Vessantara. Tâu đại vương, vào khoảng giữa của hai vị Phật là ‘đức Thế Tôn Kassapa và đức Thế Tôn Sakyamuni,’ nhiều koṭi năm vượt quá cách thức tính đếm đã trôi qua, ngay cả trong khoảng thời gian đó tôi cũng không có nghe là ‘đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra.’
Tâu đại vương, đại địa cầu không rúng động với sự tinh tấn chừng ấy, với sự nỗ lực chừng ấy. Tâu đại vương, bị chồng chất gánh nặng về đức hạnh, bị chồng chất toàn bộ gánh nặng về sự trong sạch, hành động, và đức hạnh, trong khi không thể nâng đỡ, đại địa cầu lay động, rúng động, chuyển động.
BJT 7Tâu đại vương, giống như khi chiếc xe tải bị chồng chất vật nặng quá tải thì các ổ trục và các vành bánh xe bung ra, trục xe bị gãy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế bị chồng chất toàn bộ gánh nặng về sự trong sạch, hành động, và đức hạnh, trong khi không thể nâng đỡ, đại địa cầu lay động, rúng động, chuyển động.
Tâu đại vương, hoặc là giống như bầu trời bị bao phủ bởi sự chuyển động của gió và nước, bị chồng chất bởi gánh nặng về lượng nước dồi dào, do trạng thái bị đưa đẩy bởi cơn gió mạnh nên gầm rú, gào thét, rống lên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế bị chồng chất gánh nặng lớn lao và dồi dào về năng lực bố thí của đức vua Vessantara, trong khi không thể nâng đỡ, đại địa cầu lay động, rúng động, chuyển động.
BJT 8Tâu đại vương, bởi vì tâm của đức vua Vessantara không vận hành do tác động của tham, không vận hành do tác động của sân, không vận hành do tác động của si, không vận hành do tác động của ngã mạn, không vận hành do tác động của tà kiến, không vận hành do tác động của phiền não, không vận hành do tác động của suy tầm, không vận hành do tác động của ganh ghét. Khi ấy, nó vận hành phần nhiều do tác động của sự bố thí: ‘Làm cách nào những người ăn xin chưa đi đến có thể đến gần ta, và những người ăn xin đã đi đến có thể nhận lãnh theo như ý muốn và có thể được hài lòng?’ Sự bố thí là chủ tể, là tâm ý đã được khẳng định một cách thường xuyên, liên tục.
BJT 9Tâu đại vương, tâm ý của đức vua Vessantara đã được khẳng định một cách thường xuyên, liên tục trong mười trường hợp: ở sự huấn luyện, ở sự bình lặng, ở sự nhẫn nại, ở sự phòng hộ, ở sự thu thúc, ở sự đè nén, ở sự không giận dữ, ở sự không hãm hại, ở sự chân thật, ở sự trong sạch.
Tâu đại vương, đối với đức vua Vessantara thì sự tầm cầu về dục đã được dứt bỏ, sự tầm cầu về hữu đã được yên lặng, chỉ riêng sự tầm cầu về Phạm hạnh là được đạt đến một cách sốt sắng.
Tâu đại vương, đối với đức vua Vessantara thì sự bảo vệ bản thân đã được dứt bỏ, sự bảo vệ người khác đã được đạt đến một cách sốt sắng: ‘Làm cách nào những chúng sanh này có thể hợp nhất, không tật bệnh, có tài sản, có tuổi thọ dài lâu?’ tâm ý vận hành phần nhiều là như thế.
Tâu đại vương, và trong khi bố thí vật thí ấy, đức vua Vessantara không bố thí vì nhân đạt đến tái sanh, không bố thí vì nhân tài sản, không bố thí vì nhân vật biếu lại, không bố thí vì nhân thu phục, không bố thí vì nhân tuổi thọ, không bố thí vì nhân sắc đẹp, không bố thí vì nhân hạnh phúc, không bố thí vì nhân sức mạnh, không bố thí vì nhân danh vọng, không bố thí vì nhân con trai, không bố thí vì nhân con gái. Khi ấy đức vua đã bố thí vật thí cao quý, không thể đo lường, bao la, vô thượng có hình thức như thế ấy vì lý do của trí Toàn Tri, vì lý do của báu vật là trí Toàn Tri. Và khi đã đạt được bản thể Toàn Tri, đức vua đã nói lên lời kệ này:
‘Chỉ vì lý do là sự Giác Ngộ, ta đã không nghĩ suy trong khi buông bỏ Jāli, con gái Kaṇhājinā, và hoàng hậu Maddī chung thủy.’
BJT 10Tâu đại vương, đức vua Vessantara chiến thắng giận dữ bằng không giận dữ, chiến thắng sự xấu xa bằng sự tốt đẹp, chiến thắng keo kiệt bằng bố thí, chiến thắng giả dối bằng chân thật, chiến thắng tất cả bất thiện bằng thiện. Trong khi vị ấy, là người đã tiến bước theo Giáo Pháp, hướng về Giáo Pháp, đang bố thí như vậy, do tính chất bao la của sự tinh tấn và năng lực của việc hoàn thành sự bố thí, có những cơn gió lớn xao động ở phía bên dưới. Chúng thổi qua một cách hoàn toàn rối loạn, chầm chậm từng cơn từng cơn một; chúng sà xuống, bốc lên, xoáy tròn; các cây bị trụi lá đổ xuống, những đám mây dầy đặc di chuyển ở bầu trời, những cơn gió tích lũy đầy bụi trở nên dữ dội, bầu trời bị hạ thấp, các cơn gió thổi cuốn đi ào ạt, âm thanh vô cùng ghê rợn phát ra; khi những cơn gió ấy giận dữ thì nước dao động tăng dần, khi nước bị dao động thì các con cá và rùa bị quấy nhiễu, các đợt sóng từng đôi từng đôi sanh lên, các chúng sanh là loài thủy tộc run sợ, sóng nước gợn tròn từng cặp, tiếng rì rào của sóng phát khởi, bong bóng nước ghê rợn nổi lên, những mảng bọt nước hiện hữu; đại dương nổi dậy, nước chạy khắp tám phương, các dòng nước trôi chảy từ miệng của các dòng nước xuôi ngược. Các loài A-tu-la, kim-sỉ-điểu, rồng, dạ-xoa bị hoảng hốt: ‘Có thật không, bằng cách nào mà biển cả xoay ngược lại?’ rồi tìm kiếm lối ra đi với tâm hãi sợ; khi bầu nước bị quấy nhiễu, bị khuấy rối, đại địa cầu cùng với núi non luôn cả biển cả rúng động, chóp đá của đỉnh núi Sineru nghiêng ngả trong khi bị xoáy tròn, các loài rắn, chồn, mèo, chó rừng, heo rừng, nai, chim chóc bị hết hồn, các dạ-xoa ít quyền lực khóc lóc, các dạ-xoa nhiều quyền lực cười đùa trong khi đại địa cầu rung động.
BJT 11Tâu đại vương, giống như ngọn lửa đang cháy ở bên dưới cái chảo to lớn vĩ đại được chứa đầy nước, có gạo lổn nhổ, được đặt ở lò lửa, trước tiên (ngọn lửa) đốt nóng cái chảo, khi cái chảo đã được đốt nóng, nó đun nóng nước; khi nước đã được đốt nóng, nó đun nóng gạo; gạo đã được đốt nóng nổi lên, chìm xuống, làm sanh ra bong bóng nước, rồi những mảng bọt nước trồi lên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, đức vua Vessantara đã từ bỏ vật khó từ bỏ ở thế gian. Khi vị ấy đang từ bỏ vật khó từ bỏ ấy, do sự hoàn thành từ bản chất của việc bố thí, những cơn gió lớn ở phía bên dưới, trong khi không thể nâng đỡ, đã bị khuấy động. Khi những cơn gió lớn bị khuấy động, nước đã rung động. Khi nước bị rung động, đại địa cầu đã rung động.
Như thế vào khi ấy ‘những cơn gió lớn, nước, và quả địa cầu,’ ba thứ này đã trở thành như là có chung một tâm ý. Do việc hoàn thành của sự bố thí vĩ đại, do năng lực và sự tinh tấn bao la, không có người nào khác có oai lực bố thí như thế này như là oai lực bố thí vĩ đại của đức vua Vessantara.
BJT 12Tâu đại vương, giống như các viên ngọc ma-ni nhiều loại được tìm thấy ở trái đất, như là: ngọc xa-phia, ngọc lục, ngọc như ý, ngọc bích, ngọc hoa lanh, ngọc hoa keo, ngọc thu hồn, ngọc nhật lệ, ngọc nguyệt lệ, kim cương, ngọc lân tinh, hoàng ngọc, hồng ngọc, ngọc mắt mèo,’ thì viên ngọc ma-ni của đức Chuyển Luân vượt trội tất cả các viên ngọc này nên được gọi là nhất hạng. Tâu đại vương, viên ngọc ma-ni của đức Chuyển Luân chiếu sáng một do-tuần ở chung quanh, tâu đại vương, tương tợ y như thế bất cứ sự bố thí nào được tìm thấy ở trái đất, dầu là sự bố thí tối thượng không thể sánh bằng, sự bố thí vĩ đại của đức vua Vessantara vượt trội tất cả các sự bố thí ấy nên được gọi là nhất hạng. Tâu đại vương, khi sự bố thí vĩ đại của đức vua Vessantara đang được trao ra thì đại địa cầu đã bị rung động bảy lần.”
“Thưa ngài Nāgasena, là sự kỳ diệu của chư Phật! Thưa ngài Nāgasena, là sự phi thường của chư Phật! Là việc đức Thế Tôn, trong khi còn là Bồ Tát, với sự nhẫn nại như vậy, với tâm như vậy, với quyết định như vậy, với chủ tâm như vậy, so với thế gian không người sánh bằng. Thưa ngài Nāgasena, sự nỗ lực của các đức Bồ Tát đã được phô bày. Và các pháp toàn hảo của các đấng Chiến Thắng được chiếu sáng còn nhiều hơn thậm chí trong khi các ngài đang thực hành đức hạnh, cho đến bản thể tối thượng của đức Như Lai là được hiển hiện ở thế gian có cả chư Thiên. Thưa ngài Nāgasena, thật tốt đẹp thay Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng đã được tán dương, các pháp toàn hảo của đấng Chiến Thắng đã được tỏa sáng, nút thắt ở học thuyết của các giáo chủ tà giáo đã được cắt đứt, bầu nước về học thuyết của những kẻ khác đã được đập bể, câu hỏi thâm sâu đã được làm rõ, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, sự giải quyết của các vị con trai của đấng Chiến Thắng đã được tiếp thu đúng đắn. Hỡi vị cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng, xin ngài hãy chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về hiện tượng dao động dữ dội của trái đất là thứ tư.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘aṭṭhime, bhikkhave, hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā’ti.
Asesavacanaṁ idaṁ, nissesavacanaṁ idaṁ, nippariyāyavacanaṁ idaṁ, natthañño navamo hetu mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Yadi, bhante nāgasena, añño navamo hetu bhaveyya mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, tampi hetuṁ bhagavā katheyya.
Yasmā ca kho, bhante nāgasena, natthañño navamo hetu mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, tasmā anācikkhito bhagavatā, ayañca navamo hetu dissati mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, yaṁ vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitāti.
Yadi, bhante nāgasena, aṭṭheva hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, tena hi vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitāti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, tena hi aṭṭheva hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyāti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho sukhumo dunniveṭhiyo andhakaraṇo ceva gambhīro ca, so tavānuppatto, neso aññena ittarapaññena sakkā visajjetuṁ aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘aṭṭhime, bhikkhave, hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā’ti.
Yaṁ vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, tañca pana akālikaṁ kadācuppattikaṁ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṁ, tasmā agaṇitaṁ aṭṭhahi hetūhi.
Yathā, mahārāja, loke tayoyeva meghā gaṇīyanti vassiko hemantiko pāvusakoti.
Yadi te muñcitvā añño megho pavassati, na so megho gaṇīyati sammatehi meghehi, akālameghotveva saṅkhaṁ gacchati.
Evameva kho, mahārāja, vessantarena raññā mahādāne dīyamāne yaṁ sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, akālikaṁ etaṁ kadācuppattikaṁ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṁ, na taṁ gaṇīyati aṭṭhahi hetūhi.
Yathā vā pana, mahārāja, himavantā pabbatā pañca nadisatāni sandanti, tesaṁ, mahārāja, pañcannaṁ nadisatānaṁ daseva nadiyo nadigaṇanāya gaṇīyanti.
Seyyathidaṁ—
gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī sindhu sarassatī vetravatī vītaṁsā candabhāgāti, avasesā nadiyo nadigaṇanāya agaṇitā.
Kiṁ kāraṇā?
Na tā nadiyo dhuvasalilā.
Evameva kho, mahārāja, vessantarena raññā mahādāne dīyamāne yaṁ sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, akālikaṁ etaṁ kadācuppattikaṁ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṁ, na taṁ gaṇīyati aṭṭhahi hetūhi.
Yathā vā pana, mahārāja, rañño satampi dvisatampi tisatampi amaccā honti, tesaṁ chayeva janā amaccagaṇanāya gaṇīyanti.
Seyyathidaṁ—
senāpati purohito akkhadasso bhaṇḍāgāriko chattaggāhako khaggaggāhako.
Eteyeva amaccagaṇanāya gaṇīyanti.
Kiṁ kāraṇā?
Yuttattā rājaguṇehi, avasesā agaṇitā, sabbe amaccātveva saṅkhaṁ gacchanti.
Evameva kho, mahārāja, vessantarena raññā mahādāne dīyamāne yaṁ sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, akālikaṁ etaṁ kadācuppattikaṁ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṁ, na taṁ gaṇīyati aṭṭhahi hetūhi.
Suyyati nu kho, mahārāja, etarahi jinasāsane katādhikārānaṁ diṭṭhadhammasukhavedanīyakammaṁ, kitti ca yesaṁ abbhuggatā devamanussesū”ti?
“Āma, bhante, suyyati etarahi jinasāsane katādhikārānaṁ diṭṭhadhammasukhavedanīyakammaṁ, kitti ca yesaṁ abbhuggatā devamanussesu satta janāti”.
“Ke ca te, mahārājā”ti?
“Sumano ca, bhante, mālākāro, ekasāṭako ca brāhmaṇo, puṇṇo ca bhatako, mallikā ca devī, gopālamātā ca devī, suppiyā ca upāsikā, puṇṇā ca dāsīti ime satta diṭṭhadhammasukhavedanīyā sattā, kitti ca imesaṁ abbhuggatā devamanussesū”ti.
“Aparepi suyyanti nu kho atīte mānusakeneva sarīradehena tidasabhavanaṁ gatā”ti?
“Āma, bhante, suyyantī”ti.
“Ke ca te, mahārājā”ti?
“Guttilo ca gandhabbo, sādhīno ca rājā, nimi ca rājā, mandhātā ca rājāti ime caturo janā suyyanti, teneva mānusakena sarīradehena tidasabhavanaṁ gatā”ti.
“Sucirampi kataṁ suyyati sukatadukkaṭanti?
Sutapubbaṁ pana tayā, mahārāja, atīte vā addhāne vattamāne vā addhāne itthannāmassa dāne dīyamāne sakiṁ vā dvikkhattuṁ vā tikkhattuṁ vā mahāpathavī kampitā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Atthi me, mahārāja, āgamo adhigamo pariyatti savanaṁ sikkhābalaṁ sussūsā paripucchā ācariyupāsanaṁ, mayāpi na sutapubbaṁ ‘itthannāmassa dāne dīyamāne sakiṁ vā dvikkhattuṁ vā tikkhattuṁ vā mahāpathavī kampitā’ti ṭhapetvā vessantarassa rājavasabhassa dānavaraṁ.
Bhagavato ca, mahārāja, kassapassa, bhagavato ca sakyamuninoti dvinnaṁ buddhānaṁ antare gaṇanapathaṁ vītivattā vassakoṭiyo atikkantā, tatthapi me savanaṁ natthi ‘itthannāmassa dāne dīyamāne sakiṁ vā dvikkhattuṁ vā tikkhattuṁ vā mahāpathavī kampitā’ti.
Na, mahārāja, tāvatakena vīriyena tāvatakena parakkamena mahāpathavī kampati, guṇabhārabharitā, mahārāja, sabbasoceyyakiriyaguṇabhārabharitā dhāretuṁ na visahantī mahāpathavī calati kampati pavedhati.
Yathā, mahārāja, sakaṭassa atibhārabharitassa nābhiyo ca nemiyo ca phalanti akkho bhijjati;
evameva kho, mahārāja, sabbasoceyyakiriyaguṇabhārabharitā mahāpathavī dhāretuṁ na visahantī calati kampati pavedhati.
Yathā vā pana, mahārāja, gaganaṁ anilajalavegasañchāditaṁ ussannajalabhārabharitaṁ ativātena phuṭitattā nadati ravati gaḷagaḷāyati;
evameva kho, mahārāja, mahāpathavī rañño vessantarassa dānabalavipulaussannabhārabharitā dhāretuṁ na visahantī calati kampati pavedhati.
Na hi, mahārāja, rañño vessantarassa cittaṁ rāgavasena pavattati, na dosavasena pavattati, na mohavasena pavattati, na mānavasena pavattati, na diṭṭhivasena pavattati, na kilesavasena pavattati, na vitakkavasena pavattati, na arativasena pavattati, atha kho dānavasena bahulaṁ pavattati ‘kinti anāgatā yācakā mama santike āgaccheyyuṁ, āgatā ca yācakā yathākāmaṁ labhitvā attamanā bhaveyyun’ti satataṁ samitaṁ dānaṁ pati mānasaṁ ṭhapitaṁ hoti.
Rañño, mahārāja, vessantarassa satataṁ samitaṁ dasasu ṭhānesu mānasaṁ ṭhapitaṁ hoti dame same khantiyaṁ saṁvare yame niyame akkodhe avihiṁsāyaṁ sacce soceyye.
Rañño, mahārāja, vessantarassa kāmesanā pahīnā, bhavesanā paṭippassaddhā, brahmacariyesanāyayeva ussukkaṁ āpanno, rañño, mahārāja, vessantarassa attarakkhā pahīnā, sabbasattarakkhāya ussukkaṁ āpanno ‘kinti ime sattā samaggā assu arogā sadhanā dīghāyukā’ti bahulaṁyeva mānasaṁ pavattati.
Dadamāno ca, mahārāja, vessantaro rājā taṁ dānaṁ na bhavasampattihetu deti, na dhanahetu deti, na paṭidānahetu deti, na upalāpanahetu deti, na āyuhetu deti, na vaṇṇahetu deti, na sukhahetu deti, na balahetu deti, na yasahetu deti, na puttahetu deti, na dhītuhetu deti, atha kho sabbaññutañāṇahetu sabbaññutañāṇaratanassa kāraṇā evarūpe atulavipulānuttare dānavare adāsi, sabbaññutaṁ patto ca imaṁ gāthaṁ abhāsi—
‘Jāliṁ kaṇhājinaṁ dhītaṁ,
maddideviṁ patibbataṁ;
Cajamāno na cintesiṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā’ti.
Vessantaro, mahārāja, rājā akkodhena kodhaṁ jināti, asādhuṁ sādhunā jināti, kadariyaṁ dānena jināti, alikavādinaṁ saccena jināti, sabbaṁ akusalaṁ kusalena jināti.
Tassa evaṁ dadamānassa dhammānugatassa dhammasīsakassa dānanissandabalava vīriyavipulavipphārena heṭṭhā mahāvātā sañcalanti saṇikaṁ saṇikaṁ sakiṁ sakiṁ ākulākulā vāyanti onamanti unnamanti vinamanti, chinnapattapādapā papatanti, gumbaṁ gumbaṁ valāhakā gagane sandhāvanti, rajosañcitā vātā dāruṇā honti, gaganaṁ uppīḷitā vātā vāyanti, sahasā dhamadhamāyanti, mahābhīmo saddo niccharati, tesu vātesu kupitesu udakaṁ saṇikaṁ saṇikaṁ calati, udake calite khubbhanti macchakacchapā, yamakayamakā ūmiyo jāyanti, jalacarā sattā tasanti, jalavīci yuganaddho vattati, vīcinādo pavattati, ghorā bubbuḷā uṭṭhahanti, pheṇamālā bhavanti, uttarati mahāsamuddo, disāvidisaṁ dhāvati udakaṁ, uddhaṁsotapaṭisotamukhā sandanti saliladhārā, tasanti asurā garuḷā nāgā yakkhā, ubbijjanti ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho, sāgaro viparivattatī’ti, gamanapathamesanti bhītacittā, khubhite luḷite jaladhāre pakampati mahāpathavī sanagā sasāgarā, parivattati sinerugiri kūṭaselasikharo vinamamāno hoti, vimanā honti ahinakulabiḷārakoṭṭhukasūkaramigapakkhino, rudanti yakkhā appesakkhā, hasanti yakkhā mahesakkhā kampamānāya mahāpathaviyā.
Yathā, mahārāja, mahati mahāpariyoge uddhanagate udakasampuṇṇe ākiṇṇataṇḍule heṭṭhato aggi jalamāno paṭhamaṁ tāva pariyogaṁ santāpeti, pariyogo santatto udakaṁ santāpeti, udakaṁ santattaṁ taṇḍulaṁ santāpeti, taṇḍulaṁ santattaṁ ummujjati nimujjati, bubbuḷakajātaṁ hoti, pheṇamālā uttarati;
evameva kho, mahārāja, vessantaro rājā yaṁ loke duccajaṁ, taṁ caji, tassa taṁ duccajaṁ cajantassa dānassa sabhāvanissandena heṭṭhā mahāvātā dhāretuṁ na visahantā parikuppiṁsu, mahāvātesu parikupitesu udakaṁ kampi, udake kampite mahāpathavī kampi, iti tadā mahāvātā ca udakañca mahāpathavī cāti ime tayo ekamanā viya ahesuṁ mahādānanissandena vipulabalavīriyena natthediso, mahārāja, aññassa dānānubhāvo, yathā vessantarassa rañño mahādānānubhāvo.
Yathā, mahārāja, mahiyā bahuvidhā maṇayo vijjanti.
Seyyathidaṁ—
indanīlo mahānīlo jotiraso veḷuriyo ummāpuppho sirīsapuppho manoharo sūriyakanto candakanto vajiro khajjopanako phussarāgo lohitaṅgo masāragalloti, ete sabbe atikkamma cakkavattimaṇi aggamakkhāyati, cakkavattimaṇi, mahārāja, samantā yojanaṁ obhāseti.
Evameva kho, mahārāja, yaṁ kiñci mahiyā dānaṁ vijjati api asadisadānaṁ paramaṁ, taṁ sabbaṁ atikkamma vessantarassa rañño mahādānaṁ aggamakkhāyati, vessantarassa, mahārāja, rañño mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, buddhānaṁ, abbhutaṁ, bhante nāgasena, buddhānaṁ, yaṁ tathāgato bodhisatto samāno asamo lokena evaṅkhanti evaṁcitto evaṁadhimutti evaṁadhippāyo, bodhisattānaṁ, bhante nāgasena, parakkamo dakkhāpito, pāramī ca jinānaṁ bhiyyo obhāsitā, cariyaṁ caratopi tāva tathāgatassa sadevake loke seṭṭhabhāvo anudassito.
Sādhu, bhante nāgasena, thomitaṁ jinasāsanaṁ, jotitā jinapāramī, chinno titthiyānaṁ vādagaṇṭhi, bhinno parāpavādakumbho, pañho gambhīro uttānīkato, gahanaṁ agahanaṁ kataṁ, sammā laddhaṁ jinaputtānaṁ nibbāhanaṁ, evametaṁ, gaṇivarapavara, tathā sampaṭicchāmā”ti.
Pathavicalanapañho catuttho.
PTS cs 35 ‘Venerable Nāgasena, the Blessed One said thus: “There are these eight causes, O Bhikkhus, proximate or remote, for a mighty earthquake.” This is an inclusive statement, a statement which leaves no room for anything to be, supplemented, a statement to which no gloss can be added. There can be no ninth reason for an earthquake. If there were, the Blessed One would have mentioned it. It, is because there is no other, that he left it unnoticed. But we find another, and a ninth reason, when we are told that on Vessantara’s giving his mighty largesse the earth shook seven times. If, Nāgasena, there are eight causes for an earthquake, then what we hear of the earthquake at Vessantara’s largesse is false. And if that is true, then the statement as to the eight PTS vp En 171 causes of earthquakes is false. This double-headed question, too, is subtle, hard to unravel, dark, and profound. It is now put to you. PTS vp Pali 114 No one of less knowledge can solve it, only one wise as you.’
PTS cs 36 ‘The Blessed One made the statement you refer to, O king, and yet the earth shook seven times at Vessantara’s largesse. But that was out of season, it was an isolated occurrence, it was not included in the eight usual causes, and was not therefore reckoned as one of them. just, O king, as there are three kinds of well-known rains reckoned in the world-that of the rainy season, that of the winter months, and that of the two months Āsāḷha and Sāvana. If, besides these, any other rain falls, that is not reckoned among the usual rains, but is called “a rain out of season.” And again, O king, just as there are five hundred rivers which flow down from the Himālayas, but of these ten only are reckoned in enumerations of rivers—the Ganges, the Jumna, the Aciravatī, the Sarabhū, the Mahī, the Indus, the Sarasvatī, the Vetravatī, the Vītaṁsā, and the Candabhāgā—the others not being included in the catalogue because of their intermittent flow of water. And again, O king, just as there are a hundred or two of officers under the king, but only six of them are reckoned as officers of state—the commander-in-chief, the prime minister, and the chief judge, and the high treasurer, and the bearer of the sunshade of state, and the state sword-bearer. And why? Because of their royal prerogatives. The rest are not reckoned, they are all called simply officers. PTS vp Pali 115 Just as in all these cases, great king, the seven times repeated earthquake at the largesse of Vessantara was, as an isolated and extra PTS vp En 172 ordinary occurrence, and distinct from the eight usual ones, not reckoned among those eight causes.’
PTS cs 37 ‘Now have you heard, O king, in the history of our faith of any act of devotion being done so as to receive its recompense even in this present life, the fame of which has reached up to the gods?’
‘Yes, Lord, I have heard of such. There are seven cases of such actions.’
‘Who were the people who did those things?’
‘Sumana the garland maker, and Eka-sāṭaka the brahman, and Puṇṇa the hired servant, and Mallikā the queen, and the queen known as the mother of Gopāla, and Suppiyā the devoted woman, and Puṇṇā the slave-girl. It was these seven who did acts of devotion which bare fruit even in this life, and the fame of which reached even to the gods.’
‘And have you heard of others, O king, who, even in their human body, mounted up to the blessed abode of the great Thirty-three?’
‘Yes, I have heard, too, of them.’
‘And who were they?’
‘Guttila the musician, and Sādhīna the king, and king Nimi, and king Mandhātā—these four. Long ago was it done, this glorious deed and difficult.’
‘But have you ever heard, O king, of the earth shaking, either now or in the past, and either once or twice or thrice, when a gift had been given?’
‘No, Sir, that I have not heard of.’
‘And I too, O king—though I have received the traditions, and been devoted to study, and to hearing the law, and to learning by heart, and to the acquirements of discipleship, and though I have been ready to learn, and to ask and to answer questions, and to sit at the feet of teachers—I too have never heard PTS vp En 173 of such a thing, except only in the case of the splendid gift of Vessantara the glorious king. And between the times of Kassapa the Blessed One, and of the Blessed One the Sākya sage, there have rolled by hundreds of thousands of years, but in all that period I have heard of no such case. PTS vp Pali 116 It is at no common effort, O king, at no ordinary struggle, that the great earth is moved. It is when overborne by the weight of righteousness, overpowered by the burden of the goodness of acts which testify of absolute purity, that, unable to support it, the broad earth quakes and trembles and is moved. Then it is as when a wagon is overladen with a too heavy weight, and the nave and the spokes are split, and the axletree is broken in twain. Then it is as when the heavens, overspread with the waters of the tempest driven by the wind, and overweighted with the burden of the heaped-up rain-clouds, roar and creak and rage at the onset of the whirlwind. Thus was it, great king, that the broad earth, unable to support the unwonted burden of the heaped-up and wide-reaching force of king Vessantara’s largesse, quaked and trembled and was moved. For the heart of king Vessantara was not turned in the way of lust, nor of ill-will, nor of dullness, nor of pride, nor of delusion, nor of sin, nor of disputation, nor of discontent, but it was turned mightily to generosity. And thinking: “Let all those who want, and who have not yet come, now arrive! Let all who come receive whate’er they want, and be filled with satisfaction!” it was on giving, ever and without end, that his mind was set. And on these ten conditions of heart, O king, was his mind too fixed—on self-control, and on inward calm, and on PTS vp En 174 long-suffering, and on self-restraint, and on temperance, and on voluntary subjugation to meritorious vows, and on freedom from all forms of wrath and cruelty, and on truthfulness, and on purity of heart. He had abandoned, O king, all seeking after the satisfaction of his animal lusts, he had overcome all craving after a future life, his strenuous effort was set only towards the higher life. He had given up, O king, the caring for himself, and devoted himself thenceforth to caring for others alone. His mind was fixed immovably on the thought: “How can I make all beings to be at peace, healthy, and wealthy, and long lived?” PTS vp Pali 117 And when, O king, he was giving things away, he gave not for the sake of rebirth in any glorious state, he gave not for the sake of wealth, nor of receiving gifts in return, nor of flattery, nor of long life for himself, nor of high birth, nor of happiness, nor of power, nor of fame, nor of offspring either of daughters or of sons—but it was for the sake of supreme wisdom and of the treasure thereof that he gave gifts so immense, so immeasurable, so unsurpassed. It was when he had attained to that supreme wisdom that he uttered the verse:
“Jāli, my son, and the Black Antelope,
My daughter, and my queen, my wife, Maddī,
I gave them all away without a thought—
And ‘twas for Buddhahood I did this thing.”’
PTS cs 38 ‘The angry man, O king, did the great king Vessantara conquer by mildness, and the wicked man by goodness, and the covetous by generosity, PTS vp En 175 and the speaker of falsehood by truth, and all evil did he overcome by righteousness. When he was thus giving away—he who was seeking after righteousness, who had made righteousness his aim—then were the great winds, on which the earth rests below, agitated by the full force of the power of the influence that resulted from his generosity, and little by little, one by one, the great winds began to blow confusedly, and up and down and towards each side the earth swayed, and the mighty trees rooted in the soil began to totter, and masses of cloud were heaped together in the sky, and terrible winds arose laden with dust, and the heavens rushed together, and hurricanes blew with violent blasts, and a great and terrible mighty noise was given forth. And at the raging of those winds, the waters little by little began to move, and at the movement of the waters the great fish and the scaly creatures were disturbed, and the waves began to roll in double breakers, and the beings that dwell in the waters were seized with fear and as the breakers rushed together in pairs the roar of the ocean grew loud, and the spray was lashed into fury, and garlands of foam arose, and the great ocean opened to its depths, and the waters rushed hither and thither, the furious crests of their waves meeting this way and that; and the Asuras, and Garuḷas, and Yakkhas, and Nāgas shook with fear, and thought in their alarm: “What now! How now! is the great ocean being turned upside down? “ PTS vp En 176 and sought, with terrified hearts, for a way of escape. And as the water on which it rests was troubled and agitated, then the broad earth began to shake, and with it the mountain ranges and the ocean depths, PTS vp Pali 118 and Sineru began to revolve, and its rocky mountain crest became twisted. And at the trembling of the earth, the serpents, and mungooses, and cats, and jackals, and boars, and deer, and birds became greatly distressed, and the Yakkhas of inferior power wept, while those of greater power were merry.
PTS cs 39 ‘Just, O king, as when a huge and mighty cauldron, full of water and crowded with grains of rice, is placed over a fireplace, then the fire burning beneath heats first of all the cauldron, and when that has become hot the water begins to boil, and as the water boils the grains of rice are heated and dive hither and thither in the water, and a mass of bubbles arises, and a garland of foam is formed—just so, O king, king Vessantara gave away whatsoever is in the world considered most difficult to bestow, and by reason of the nature of his generosity the great winds beneath were unable to refrain from being agitated throughout, and on the great winds being thrown into confusion the waters were shaken, and on the waters being disturbed the broad earth trembled, and so then the winds and the waters and the earth became all three, as it were, of one accord by the immense and powerful influence that PTS vp En 177 resulted from that mighty giving. And there was never another giving, O king, which had such power as that generosity of the great king Vessantara.
PTS cs 40 ‘And just, O king, as there are many gems of value found in the earth—the sapphire, and the great sapphire, and the wish-conferring gem, and the cat’s eye, and the flax gem, and the Acacia gem, and the entrancing gem, and the favourite of the sun, and the favourite of the moon, and the crystal, and the kajjopakkamaka, and the topaz, and the ruby, and the Masāra stone —but the glorious gem of the king of kings is acknowledged to be the chief of all these and surpassing all, for the sheen of that jewel, O king, spreads round about for a league on every side —just so, O king, of all the gifts that PTS vp En 178 have ever been given upon earth, even the greatest and the most unsurpassed, that giving of the good king Vessantara is acknowledged to surpass them all. And it was on the giving of that gift, O king, that the broad earth shook seven times.’
PTS cs 41 ‘A marvellous thing is it, Nāgasena, of the Buddhas, and a most wonderful, that the Tathāgata even when a Bodisat (in the course of becoming a Buddha) PTS vp Pali 119 was so unequalled in the world, so mild, so kind, and held before him aims so high, and endeavours so grand. You have made evident, Nāgasena, the might of the Bodisats, a most clear light have you cast upon the perfection of the Conquerors, you have shown how, in the whole world of gods and men, a Tathāgata, as he continues the practice of his noble life, is the highest and the best. Well spoken, venerable Nāgasena. The doctrine of the Conqueror has been exalted, the perfection of the Conqueror has been glorified, the knot of the arguments of the adversaries has been unravelled, the jar of the theories of the opponents has been broken in pieces, the dilemma so profound has been made clear, the jungle has been turned into open country, the children of the Conqueror have received the desire of their hearts. It is so, as you say, O best of the leaders of schools, and I accept that which you have said!’
Here ends the dilemma as to the earthquake at Vessantara’s gift.
DAO ĐỘNG DỮ DỘI CỦA TRÁI ĐẤT
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, có tám nhân tám duyên này đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất.’ Đây là lời nói không thiếu sót, đây là lời nói đầy đủ, đây là lời nói không thay đổi, không có nhân thứ chín nào khác đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất. Thưa ngài Nāgasena, nếu có nhân thứ chín khác đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất, đức Thế Tôn cũng sẽ nói đến nhân ấy. Và thưa ngài Nāgasena, bởi vì không có nhân thứ chín nào khác đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất, vì thế đã không được đức Thế Tôn đề cập đến. Và có nhân thứ chín này đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất được thấy là đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara. Thưa ngài Nāgasena, nếu chỉ có tám nhân tám duyên đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất, như thế thì lời nói ‘đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara’ là sai trái. Nếu đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, như thế thì lời nói ‘chỉ có tám nhân tám duyên đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, vi tế, khó tháo gỡ, gây tăm tối, và sâu xa. Nó được dành cho ngài. Điều này không thể trả lời bởi người nào khác có trí tuệ nhỏ nhoi, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy.”
“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, có tám nhân tám duyên này đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất.’ Còn đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, tuy nhiên điều ấy là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Vì thế không được tính vào tám nhân.
BJT 2Tâu đại vương, giống như ở thế gian chỉ có ba loại mưa được tính là ‘(mưa) thuộc mùa mưa, (mưa) thuộc mùa lạnh, và cơn mưa rào.’ Nếu có cơn mưa khác không thuộc vào ba loại này mà đổ mưa, thì cơn mưa ấy không được tính vào các loại mưa đã được công nhận, và chỉ được xem là ‘cơn mưa sái mùa.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, điều này là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Việc ấy không được tính vào tám nhân.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như năm trăm con sông chảy ra từ núi Hi-mã-lạp. Tâu đại vương, trong số năm trăm con sông ấy, chỉ có mười con sông được tính vào việc tính đếm các con sông, tức là: sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, Sindhu, Sarassatī, Vetravatī, Vitatthā, Candabhāgā. Các con sông còn lại không được tính vào việc tính đếm các con sông. Vì lý do gì? Các con sông ấy không có nước thường xuyên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, điều này là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Việc ấy không được tính vào tám nhân.
BJT 4Tâu đại vương, hoặc là giống như các quan đại thần của đức vua thì cả trăm người, hai trăm người. Trong số những người ấy chỉ có sáu là được tính vào việc tính đếm các quan đại thần, tức là: tướng quân, quan tế tự, quan xử án, quan thủ khố, quan giữ lọng, quan giữ gươm. Chỉ những người này được tính vào việc tính đếm các quan đại thần. Vì lý do gì? Vì trạng thái gắn bó với các phẩm chất của đức vua. Còn tất cả những người còn lại không được tính đếm mà chỉ được xem là ‘quan đại thần.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, điều này là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Việc ấy không được tính vào tám nhân.
Tâu đại vương, phải chăng có được nghe là trong thời hiện tại nghiệp của những việc làm hướng thượng đã làm ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng là có cảm thọ lạc trong hiện tại, và danh tiếng của những việc này vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có được nghe là trong thời hiện tại nghiệp của những việc làm hướng thượng đã làm ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng là có cảm thọ lạc trong hiện tại, và danh tiếng của những việc này vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại. Những người ấy là bảy người.”
“Tâu đại vương, là ai và ai vậy?”
“Thưa ngài, là ‘người làm tràng hoa Sumana, Bà-la-môn Ekasāṭaka, người làm công Puṇṇa, hoàng hậu Mallikā, hoàng hậu Gopālamātā, cận sự nữ Suppiyā, và nữ tỳ Puṇṇā.’ Bảy người này có cảm thọ lạc trong hiện tại, và danh tiếng của những người này vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại.”
“Vậy có được nghe những người khác trong thời quá khứ đã đi đến cung trời Đạo Lợi bằng chính thân thể và vóc dáng ấy của con người?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có được nghe.”
“Tâu đại vương, là ai và ai vậy?”
“Là ‘vị Càn-thát-bà Guttila, đức vua Sādhīna, đức vua Nimī, và đức vua Mandhātā.’ Bốn người này được nghe là đã đi đến cung trời Đạo Lợi bằng thân thể và vóc dáng của con người. Được nghe rằng việc đã làm tốt hoặc đã làm xấu đã được làm lâu lắm rồi.”
“Tâu đại vương, phải chăng đại vương đã được nghe trước đây vào thời quá khứ xa xăm hoặc trong thời hiện tại xa xăm đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra?”
BJT 6“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, tôi đã có sự truyền thừa, sự thành tựu, sự thuộc lòng Kinh điển, sự lắng nghe, sự học tập, năng lực, sự mong mỏi lắng nghe, sự vấn hỏi, sự hầu hạ các vị thầy, tuy nhiên tôi cũng chưa từng được nghe trước đây đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra, ngoại trừ việc bố thí cao quý của vị vua kiệt xuất Vessantara. Tâu đại vương, vào khoảng giữa của hai vị Phật là ‘đức Thế Tôn Kassapa và đức Thế Tôn Sakyamuni,’ nhiều koṭi năm vượt quá cách thức tính đếm đã trôi qua, ngay cả trong khoảng thời gian đó tôi cũng không có nghe là ‘đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra.’
Tâu đại vương, đại địa cầu không rúng động với sự tinh tấn chừng ấy, với sự nỗ lực chừng ấy. Tâu đại vương, bị chồng chất gánh nặng về đức hạnh, bị chồng chất toàn bộ gánh nặng về sự trong sạch, hành động, và đức hạnh, trong khi không thể nâng đỡ, đại địa cầu lay động, rúng động, chuyển động.
BJT 7Tâu đại vương, giống như khi chiếc xe tải bị chồng chất vật nặng quá tải thì các ổ trục và các vành bánh xe bung ra, trục xe bị gãy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế bị chồng chất toàn bộ gánh nặng về sự trong sạch, hành động, và đức hạnh, trong khi không thể nâng đỡ, đại địa cầu lay động, rúng động, chuyển động.
Tâu đại vương, hoặc là giống như bầu trời bị bao phủ bởi sự chuyển động của gió và nước, bị chồng chất bởi gánh nặng về lượng nước dồi dào, do trạng thái bị đưa đẩy bởi cơn gió mạnh nên gầm rú, gào thét, rống lên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế bị chồng chất gánh nặng lớn lao và dồi dào về năng lực bố thí của đức vua Vessantara, trong khi không thể nâng đỡ, đại địa cầu lay động, rúng động, chuyển động.
BJT 8Tâu đại vương, bởi vì tâm của đức vua Vessantara không vận hành do tác động của tham, không vận hành do tác động của sân, không vận hành do tác động của si, không vận hành do tác động của ngã mạn, không vận hành do tác động của tà kiến, không vận hành do tác động của phiền não, không vận hành do tác động của suy tầm, không vận hành do tác động của ganh ghét. Khi ấy, nó vận hành phần nhiều do tác động của sự bố thí: ‘Làm cách nào những người ăn xin chưa đi đến có thể đến gần ta, và những người ăn xin đã đi đến có thể nhận lãnh theo như ý muốn và có thể được hài lòng?’ Sự bố thí là chủ tể, là tâm ý đã được khẳng định một cách thường xuyên, liên tục.
BJT 9Tâu đại vương, tâm ý của đức vua Vessantara đã được khẳng định một cách thường xuyên, liên tục trong mười trường hợp: ở sự huấn luyện, ở sự bình lặng, ở sự nhẫn nại, ở sự phòng hộ, ở sự thu thúc, ở sự đè nén, ở sự không giận dữ, ở sự không hãm hại, ở sự chân thật, ở sự trong sạch.
Tâu đại vương, đối với đức vua Vessantara thì sự tầm cầu về dục đã được dứt bỏ, sự tầm cầu về hữu đã được yên lặng, chỉ riêng sự tầm cầu về Phạm hạnh là được đạt đến một cách sốt sắng.
Tâu đại vương, đối với đức vua Vessantara thì sự bảo vệ bản thân đã được dứt bỏ, sự bảo vệ người khác đã được đạt đến một cách sốt sắng: ‘Làm cách nào những chúng sanh này có thể hợp nhất, không tật bệnh, có tài sản, có tuổi thọ dài lâu?’ tâm ý vận hành phần nhiều là như thế.
Tâu đại vương, và trong khi bố thí vật thí ấy, đức vua Vessantara không bố thí vì nhân đạt đến tái sanh, không bố thí vì nhân tài sản, không bố thí vì nhân vật biếu lại, không bố thí vì nhân thu phục, không bố thí vì nhân tuổi thọ, không bố thí vì nhân sắc đẹp, không bố thí vì nhân hạnh phúc, không bố thí vì nhân sức mạnh, không bố thí vì nhân danh vọng, không bố thí vì nhân con trai, không bố thí vì nhân con gái. Khi ấy đức vua đã bố thí vật thí cao quý, không thể đo lường, bao la, vô thượng có hình thức như thế ấy vì lý do của trí Toàn Tri, vì lý do của báu vật là trí Toàn Tri. Và khi đã đạt được bản thể Toàn Tri, đức vua đã nói lên lời kệ này:
‘Chỉ vì lý do là sự Giác Ngộ, ta đã không nghĩ suy trong khi buông bỏ Jāli, con gái Kaṇhājinā, và hoàng hậu Maddī chung thủy.’
BJT 10Tâu đại vương, đức vua Vessantara chiến thắng giận dữ bằng không giận dữ, chiến thắng sự xấu xa bằng sự tốt đẹp, chiến thắng keo kiệt bằng bố thí, chiến thắng giả dối bằng chân thật, chiến thắng tất cả bất thiện bằng thiện. Trong khi vị ấy, là người đã tiến bước theo Giáo Pháp, hướng về Giáo Pháp, đang bố thí như vậy, do tính chất bao la của sự tinh tấn và năng lực của việc hoàn thành sự bố thí, có những cơn gió lớn xao động ở phía bên dưới. Chúng thổi qua một cách hoàn toàn rối loạn, chầm chậm từng cơn từng cơn một; chúng sà xuống, bốc lên, xoáy tròn; các cây bị trụi lá đổ xuống, những đám mây dầy đặc di chuyển ở bầu trời, những cơn gió tích lũy đầy bụi trở nên dữ dội, bầu trời bị hạ thấp, các cơn gió thổi cuốn đi ào ạt, âm thanh vô cùng ghê rợn phát ra; khi những cơn gió ấy giận dữ thì nước dao động tăng dần, khi nước bị dao động thì các con cá và rùa bị quấy nhiễu, các đợt sóng từng đôi từng đôi sanh lên, các chúng sanh là loài thủy tộc run sợ, sóng nước gợn tròn từng cặp, tiếng rì rào của sóng phát khởi, bong bóng nước ghê rợn nổi lên, những mảng bọt nước hiện hữu; đại dương nổi dậy, nước chạy khắp tám phương, các dòng nước trôi chảy từ miệng của các dòng nước xuôi ngược. Các loài A-tu-la, kim-sỉ-điểu, rồng, dạ-xoa bị hoảng hốt: ‘Có thật không, bằng cách nào mà biển cả xoay ngược lại?’ rồi tìm kiếm lối ra đi với tâm hãi sợ; khi bầu nước bị quấy nhiễu, bị khuấy rối, đại địa cầu cùng với núi non luôn cả biển cả rúng động, chóp đá của đỉnh núi Sineru nghiêng ngả trong khi bị xoáy tròn, các loài rắn, chồn, mèo, chó rừng, heo rừng, nai, chim chóc bị hết hồn, các dạ-xoa ít quyền lực khóc lóc, các dạ-xoa nhiều quyền lực cười đùa trong khi đại địa cầu rung động.
BJT 11Tâu đại vương, giống như ngọn lửa đang cháy ở bên dưới cái chảo to lớn vĩ đại được chứa đầy nước, có gạo lổn nhổ, được đặt ở lò lửa, trước tiên (ngọn lửa) đốt nóng cái chảo, khi cái chảo đã được đốt nóng, nó đun nóng nước; khi nước đã được đốt nóng, nó đun nóng gạo; gạo đã được đốt nóng nổi lên, chìm xuống, làm sanh ra bong bóng nước, rồi những mảng bọt nước trồi lên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, đức vua Vessantara đã từ bỏ vật khó từ bỏ ở thế gian. Khi vị ấy đang từ bỏ vật khó từ bỏ ấy, do sự hoàn thành từ bản chất của việc bố thí, những cơn gió lớn ở phía bên dưới, trong khi không thể nâng đỡ, đã bị khuấy động. Khi những cơn gió lớn bị khuấy động, nước đã rung động. Khi nước bị rung động, đại địa cầu đã rung động.
Như thế vào khi ấy ‘những cơn gió lớn, nước, và quả địa cầu,’ ba thứ này đã trở thành như là có chung một tâm ý. Do việc hoàn thành của sự bố thí vĩ đại, do năng lực và sự tinh tấn bao la, không có người nào khác có oai lực bố thí như thế này như là oai lực bố thí vĩ đại của đức vua Vessantara.
BJT 12Tâu đại vương, giống như các viên ngọc ma-ni nhiều loại được tìm thấy ở trái đất, như là: ngọc xa-phia, ngọc lục, ngọc như ý, ngọc bích, ngọc hoa lanh, ngọc hoa keo, ngọc thu hồn, ngọc nhật lệ, ngọc nguyệt lệ, kim cương, ngọc lân tinh, hoàng ngọc, hồng ngọc, ngọc mắt mèo,’ thì viên ngọc ma-ni của đức Chuyển Luân vượt trội tất cả các viên ngọc này nên được gọi là nhất hạng. Tâu đại vương, viên ngọc ma-ni của đức Chuyển Luân chiếu sáng một do-tuần ở chung quanh, tâu đại vương, tương tợ y như thế bất cứ sự bố thí nào được tìm thấy ở trái đất, dầu là sự bố thí tối thượng không thể sánh bằng, sự bố thí vĩ đại của đức vua Vessantara vượt trội tất cả các sự bố thí ấy nên được gọi là nhất hạng. Tâu đại vương, khi sự bố thí vĩ đại của đức vua Vessantara đang được trao ra thì đại địa cầu đã bị rung động bảy lần.”
“Thưa ngài Nāgasena, là sự kỳ diệu của chư Phật! Thưa ngài Nāgasena, là sự phi thường của chư Phật! Là việc đức Thế Tôn, trong khi còn là Bồ Tát, với sự nhẫn nại như vậy, với tâm như vậy, với quyết định như vậy, với chủ tâm như vậy, so với thế gian không người sánh bằng. Thưa ngài Nāgasena, sự nỗ lực của các đức Bồ Tát đã được phô bày. Và các pháp toàn hảo của các đấng Chiến Thắng được chiếu sáng còn nhiều hơn thậm chí trong khi các ngài đang thực hành đức hạnh, cho đến bản thể tối thượng của đức Như Lai là được hiển hiện ở thế gian có cả chư Thiên. Thưa ngài Nāgasena, thật tốt đẹp thay Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng đã được tán dương, các pháp toàn hảo của đấng Chiến Thắng đã được tỏa sáng, nút thắt ở học thuyết của các giáo chủ tà giáo đã được cắt đứt, bầu nước về học thuyết của những kẻ khác đã được đập bể, câu hỏi thâm sâu đã được làm rõ, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, sự giải quyết của các vị con trai của đấng Chiến Thắng đã được tiếp thu đúng đắn. Hỡi vị cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng, xin ngài hãy chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về hiện tượng dao động dữ dội của trái đất là thứ tư.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘aṭṭhime, bhikkhave, hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā’ti.
Asesavacanaṁ idaṁ, nissesavacanaṁ idaṁ, nippariyāyavacanaṁ idaṁ, natthañño navamo hetu mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Yadi, bhante nāgasena, añño navamo hetu bhaveyya mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, tampi hetuṁ bhagavā katheyya.
Yasmā ca kho, bhante nāgasena, natthañño navamo hetu mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, tasmā anācikkhito bhagavatā, ayañca navamo hetu dissati mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, yaṁ vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitāti.
Yadi, bhante nāgasena, aṭṭheva hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, tena hi vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitāti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, tena hi aṭṭheva hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyāti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho sukhumo dunniveṭhiyo andhakaraṇo ceva gambhīro ca, so tavānuppatto, neso aññena ittarapaññena sakkā visajjetuṁ aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘aṭṭhime, bhikkhave, hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā’ti.
Yaṁ vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, tañca pana akālikaṁ kadācuppattikaṁ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṁ, tasmā agaṇitaṁ aṭṭhahi hetūhi.
Yathā, mahārāja, loke tayoyeva meghā gaṇīyanti vassiko hemantiko pāvusakoti.
Yadi te muñcitvā añño megho pavassati, na so megho gaṇīyati sammatehi meghehi, akālameghotveva saṅkhaṁ gacchati.
Evameva kho, mahārāja, vessantarena raññā mahādāne dīyamāne yaṁ sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, akālikaṁ etaṁ kadācuppattikaṁ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṁ, na taṁ gaṇīyati aṭṭhahi hetūhi.
Yathā vā pana, mahārāja, himavantā pabbatā pañca nadisatāni sandanti, tesaṁ, mahārāja, pañcannaṁ nadisatānaṁ daseva nadiyo nadigaṇanāya gaṇīyanti.
Seyyathidaṁ—
gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī sindhu sarassatī vetravatī vītaṁsā candabhāgāti, avasesā nadiyo nadigaṇanāya agaṇitā.
Kiṁ kāraṇā?
Na tā nadiyo dhuvasalilā.
Evameva kho, mahārāja, vessantarena raññā mahādāne dīyamāne yaṁ sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, akālikaṁ etaṁ kadācuppattikaṁ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṁ, na taṁ gaṇīyati aṭṭhahi hetūhi.
Yathā vā pana, mahārāja, rañño satampi dvisatampi tisatampi amaccā honti, tesaṁ chayeva janā amaccagaṇanāya gaṇīyanti.
Seyyathidaṁ—
senāpati purohito akkhadasso bhaṇḍāgāriko chattaggāhako khaggaggāhako.
Eteyeva amaccagaṇanāya gaṇīyanti.
Kiṁ kāraṇā?
Yuttattā rājaguṇehi, avasesā agaṇitā, sabbe amaccātveva saṅkhaṁ gacchanti.
Evameva kho, mahārāja, vessantarena raññā mahādāne dīyamāne yaṁ sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā, akālikaṁ etaṁ kadācuppattikaṁ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṁ, na taṁ gaṇīyati aṭṭhahi hetūhi.
Suyyati nu kho, mahārāja, etarahi jinasāsane katādhikārānaṁ diṭṭhadhammasukhavedanīyakammaṁ, kitti ca yesaṁ abbhuggatā devamanussesū”ti?
“Āma, bhante, suyyati etarahi jinasāsane katādhikārānaṁ diṭṭhadhammasukhavedanīyakammaṁ, kitti ca yesaṁ abbhuggatā devamanussesu satta janāti”.
“Ke ca te, mahārājā”ti?
“Sumano ca, bhante, mālākāro, ekasāṭako ca brāhmaṇo, puṇṇo ca bhatako, mallikā ca devī, gopālamātā ca devī, suppiyā ca upāsikā, puṇṇā ca dāsīti ime satta diṭṭhadhammasukhavedanīyā sattā, kitti ca imesaṁ abbhuggatā devamanussesū”ti.
“Aparepi suyyanti nu kho atīte mānusakeneva sarīradehena tidasabhavanaṁ gatā”ti?
“Āma, bhante, suyyantī”ti.
“Ke ca te, mahārājā”ti?
“Guttilo ca gandhabbo, sādhīno ca rājā, nimi ca rājā, mandhātā ca rājāti ime caturo janā suyyanti, teneva mānusakena sarīradehena tidasabhavanaṁ gatā”ti.
“Sucirampi kataṁ suyyati sukatadukkaṭanti?
Sutapubbaṁ pana tayā, mahārāja, atīte vā addhāne vattamāne vā addhāne itthannāmassa dāne dīyamāne sakiṁ vā dvikkhattuṁ vā tikkhattuṁ vā mahāpathavī kampitā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Atthi me, mahārāja, āgamo adhigamo pariyatti savanaṁ sikkhābalaṁ sussūsā paripucchā ācariyupāsanaṁ, mayāpi na sutapubbaṁ ‘itthannāmassa dāne dīyamāne sakiṁ vā dvikkhattuṁ vā tikkhattuṁ vā mahāpathavī kampitā’ti ṭhapetvā vessantarassa rājavasabhassa dānavaraṁ.
Bhagavato ca, mahārāja, kassapassa, bhagavato ca sakyamuninoti dvinnaṁ buddhānaṁ antare gaṇanapathaṁ vītivattā vassakoṭiyo atikkantā, tatthapi me savanaṁ natthi ‘itthannāmassa dāne dīyamāne sakiṁ vā dvikkhattuṁ vā tikkhattuṁ vā mahāpathavī kampitā’ti.
Na, mahārāja, tāvatakena vīriyena tāvatakena parakkamena mahāpathavī kampati, guṇabhārabharitā, mahārāja, sabbasoceyyakiriyaguṇabhārabharitā dhāretuṁ na visahantī mahāpathavī calati kampati pavedhati.
Yathā, mahārāja, sakaṭassa atibhārabharitassa nābhiyo ca nemiyo ca phalanti akkho bhijjati;
evameva kho, mahārāja, sabbasoceyyakiriyaguṇabhārabharitā mahāpathavī dhāretuṁ na visahantī calati kampati pavedhati.
Yathā vā pana, mahārāja, gaganaṁ anilajalavegasañchāditaṁ ussannajalabhārabharitaṁ ativātena phuṭitattā nadati ravati gaḷagaḷāyati;
evameva kho, mahārāja, mahāpathavī rañño vessantarassa dānabalavipulaussannabhārabharitā dhāretuṁ na visahantī calati kampati pavedhati.
Na hi, mahārāja, rañño vessantarassa cittaṁ rāgavasena pavattati, na dosavasena pavattati, na mohavasena pavattati, na mānavasena pavattati, na diṭṭhivasena pavattati, na kilesavasena pavattati, na vitakkavasena pavattati, na arativasena pavattati, atha kho dānavasena bahulaṁ pavattati ‘kinti anāgatā yācakā mama santike āgaccheyyuṁ, āgatā ca yācakā yathākāmaṁ labhitvā attamanā bhaveyyun’ti satataṁ samitaṁ dānaṁ pati mānasaṁ ṭhapitaṁ hoti.
Rañño, mahārāja, vessantarassa satataṁ samitaṁ dasasu ṭhānesu mānasaṁ ṭhapitaṁ hoti dame same khantiyaṁ saṁvare yame niyame akkodhe avihiṁsāyaṁ sacce soceyye.
Rañño, mahārāja, vessantarassa kāmesanā pahīnā, bhavesanā paṭippassaddhā, brahmacariyesanāyayeva ussukkaṁ āpanno, rañño, mahārāja, vessantarassa attarakkhā pahīnā, sabbasattarakkhāya ussukkaṁ āpanno ‘kinti ime sattā samaggā assu arogā sadhanā dīghāyukā’ti bahulaṁyeva mānasaṁ pavattati.
Dadamāno ca, mahārāja, vessantaro rājā taṁ dānaṁ na bhavasampattihetu deti, na dhanahetu deti, na paṭidānahetu deti, na upalāpanahetu deti, na āyuhetu deti, na vaṇṇahetu deti, na sukhahetu deti, na balahetu deti, na yasahetu deti, na puttahetu deti, na dhītuhetu deti, atha kho sabbaññutañāṇahetu sabbaññutañāṇaratanassa kāraṇā evarūpe atulavipulānuttare dānavare adāsi, sabbaññutaṁ patto ca imaṁ gāthaṁ abhāsi—
‘Jāliṁ kaṇhājinaṁ dhītaṁ,
maddideviṁ patibbataṁ;
Cajamāno na cintesiṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā’ti.
Vessantaro, mahārāja, rājā akkodhena kodhaṁ jināti, asādhuṁ sādhunā jināti, kadariyaṁ dānena jināti, alikavādinaṁ saccena jināti, sabbaṁ akusalaṁ kusalena jināti.
Tassa evaṁ dadamānassa dhammānugatassa dhammasīsakassa dānanissandabalava vīriyavipulavipphārena heṭṭhā mahāvātā sañcalanti saṇikaṁ saṇikaṁ sakiṁ sakiṁ ākulākulā vāyanti onamanti unnamanti vinamanti, chinnapattapādapā papatanti, gumbaṁ gumbaṁ valāhakā gagane sandhāvanti, rajosañcitā vātā dāruṇā honti, gaganaṁ uppīḷitā vātā vāyanti, sahasā dhamadhamāyanti, mahābhīmo saddo niccharati, tesu vātesu kupitesu udakaṁ saṇikaṁ saṇikaṁ calati, udake calite khubbhanti macchakacchapā, yamakayamakā ūmiyo jāyanti, jalacarā sattā tasanti, jalavīci yuganaddho vattati, vīcinādo pavattati, ghorā bubbuḷā uṭṭhahanti, pheṇamālā bhavanti, uttarati mahāsamuddo, disāvidisaṁ dhāvati udakaṁ, uddhaṁsotapaṭisotamukhā sandanti saliladhārā, tasanti asurā garuḷā nāgā yakkhā, ubbijjanti ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho, sāgaro viparivattatī’ti, gamanapathamesanti bhītacittā, khubhite luḷite jaladhāre pakampati mahāpathavī sanagā sasāgarā, parivattati sinerugiri kūṭaselasikharo vinamamāno hoti, vimanā honti ahinakulabiḷārakoṭṭhukasūkaramigapakkhino, rudanti yakkhā appesakkhā, hasanti yakkhā mahesakkhā kampamānāya mahāpathaviyā.
Yathā, mahārāja, mahati mahāpariyoge uddhanagate udakasampuṇṇe ākiṇṇataṇḍule heṭṭhato aggi jalamāno paṭhamaṁ tāva pariyogaṁ santāpeti, pariyogo santatto udakaṁ santāpeti, udakaṁ santattaṁ taṇḍulaṁ santāpeti, taṇḍulaṁ santattaṁ ummujjati nimujjati, bubbuḷakajātaṁ hoti, pheṇamālā uttarati;
evameva kho, mahārāja, vessantaro rājā yaṁ loke duccajaṁ, taṁ caji, tassa taṁ duccajaṁ cajantassa dānassa sabhāvanissandena heṭṭhā mahāvātā dhāretuṁ na visahantā parikuppiṁsu, mahāvātesu parikupitesu udakaṁ kampi, udake kampite mahāpathavī kampi, iti tadā mahāvātā ca udakañca mahāpathavī cāti ime tayo ekamanā viya ahesuṁ mahādānanissandena vipulabalavīriyena natthediso, mahārāja, aññassa dānānubhāvo, yathā vessantarassa rañño mahādānānubhāvo.
Yathā, mahārāja, mahiyā bahuvidhā maṇayo vijjanti.
Seyyathidaṁ—
indanīlo mahānīlo jotiraso veḷuriyo ummāpuppho sirīsapuppho manoharo sūriyakanto candakanto vajiro khajjopanako phussarāgo lohitaṅgo masāragalloti, ete sabbe atikkamma cakkavattimaṇi aggamakkhāyati, cakkavattimaṇi, mahārāja, samantā yojanaṁ obhāseti.
Evameva kho, mahārāja, yaṁ kiñci mahiyā dānaṁ vijjati api asadisadānaṁ paramaṁ, taṁ sabbaṁ atikkamma vessantarassa rañño mahādānaṁ aggamakkhāyati, vessantarassa, mahārāja, rañño mahādāne dīyamāne sattakkhattuṁ mahāpathavī kampitā”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, buddhānaṁ, abbhutaṁ, bhante nāgasena, buddhānaṁ, yaṁ tathāgato bodhisatto samāno asamo lokena evaṅkhanti evaṁcitto evaṁadhimutti evaṁadhippāyo, bodhisattānaṁ, bhante nāgasena, parakkamo dakkhāpito, pāramī ca jinānaṁ bhiyyo obhāsitā, cariyaṁ caratopi tāva tathāgatassa sadevake loke seṭṭhabhāvo anudassito.
Sādhu, bhante nāgasena, thomitaṁ jinasāsanaṁ, jotitā jinapāramī, chinno titthiyānaṁ vādagaṇṭhi, bhinno parāpavādakumbho, pañho gambhīro uttānīkato, gahanaṁ agahanaṁ kataṁ, sammā laddhaṁ jinaputtānaṁ nibbāhanaṁ, evametaṁ, gaṇivarapavara, tathā sampaṭicchāmā”ti.
Pathavicalanapañho catuttho.