BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, đức Thế Tôn đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện, hay là đã đạt đến bản thể Toàn Tri khi pháp bất thiện còn dư sót.”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện. Không có pháp bất thiện còn dư sót ở đức Thế Tôn.”
“Thưa ngài, phải chăng các thọ khổ trước đây đã khởi lên ở cơ thể của đức Như Lai?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Ở Rājagaha, bàn chân của đức Thế Tôn đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi, khi cơ thể bị tiết ra chất dơ Jīvaka đã cho sử dụng liều thuốc xổ, khi cơn bệnh gió phát khởi vị trưởng lão thị giả đã tìm kiếm nước nóng.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện, như thế thì lời nói rằng: ‘Bàn chân của đức Thế Tôn đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi’ là sai trái. Nếu bàn chân của đức Như Lai đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi, như thế thì lời nói: ‘Đức Như Lai đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện’ cũng là sai trái. Thưa ngài, không có cảm thọ tách rời khỏi nghiệp, tất cả cảm thọ ấy có gốc rễ ở nghiệp, được cảm nhận chỉ do nghiệp. Câu hỏi này có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 3“Tâu đại vương, không hẳn tất cả cảm thọ ấy có gốc rễ ở nghiệp. Tâu đại vương, các cảm thọ sanh lên do tám lý do, do các lý do ấy chúng sanh phàm phu cảm nhận các thọ. Do tám lý do nào? Tâu đại vương, một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là gió; tâu đại vươn … (như trên) … có nguồn sanh khởi là mật; tâu đại vươn … (như trên) … có nguồn sanh khởi là đàm; tâu đại vươn … (như trên) … có liên quan đến sự tụ hội (của gió, mật, đàm); tâu đại vươn … (như trên) … do sự thay đổi của mùa tiết; tâu đại vươn … (như trên) … do sự sinh hoạt không đều đặn; tâu đại vươn … (như trên) … có liên quan đến việc ra sức; tâu đại vương một số cảm thọ sanh lên do quả thành tựu của nghiệp. Tâu đại vương, do tám lý do này chúng sanh phàm phu cảm nhận các thọ. Ở đây, những chúng sanh nào nói rằng: ‘Nghiệp đày đọa các chúng sanh,’ những người ấy phủ nhận lý do. Lời nói ấy của những người ấy là sai trái.
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, việc có liên quan đến gió, việc có liên quan đến mật, việc có liên quan đến đàm, việc có liên quan đến sự tụ hội (của gió, mật, đàm), việc do sự thay đổi của mùa tiết, việc do sự sinh hoạt không đều đặn, việc có liên quan đến việc ra sức, tất cả các việc ấy có nguồn sanh khởi cũng ở nghiệp, tất cả các việc ấy tạo thành cũng do nghiệp.”
“Tâu đại vương, nếu tất cả các bệnh tật ấy có nguồn sanh khởi chỉ là nghiệp, thì chúng không có các đặc điểm để phân loại. Tâu đại vương, gió trong khi bị rối loạn thì bị rối loạn theo mười cách: do lạnh, do nóng, do đói, do khát, do ăn quá độ, đo đứng, do tinh tấn, do chạy, do việc ra sức, do quả thành tựu của nghiệp. Trong số đó, có chín cách sanh lên không ở quá khứ, không ở vị lai, mà ở bản thể hiện tại. Vì thế, không nên nói rằng: ‘Tất cả các thọ có sự tạo thành do nghiệp.’
Tâu đại vương, mật trong khi bị rối loạn thì bị rối loạn theo ba cách: do lạnh, do nóng, do vật thực không đều. Tâu đại vương, đàm trong khi bị rối loạn thì bị rối loạn theo ba cách: do lạnh, do nóng, do thức ăn thức uống. Tâu đại vương, cái nào là gió, cái nào là mật, cái nào là đàm, sau khi bị rối loạn do các sự rối loạn bởi chúng, sau khi có sự trộn lẫn thì kéo theo thọ của từng cái một. Tâu đại vương, thọ do sự thay đổi của mùa tiết sanh lên do sự thay đổi của mùa tiết, thọ do sự sinh hoạt không đều đặn sanh lên do sự sinh hoạt không đều đặn. Tâu đại vương, thọ có liên quan đến việc ra sức thì có cái do hành động, có cái do quả thành tựu của nghiệp. Thọ sanh lên do quả thành tựu của nghiệp sanh lên do nghiệp đã làm trước đây. Tâu đại vương, như thế do quả thành tựu của nghiệp thì ít, phần còn lại thì nhiều hơn. Ở đây, những kẻ ngu vượt quá (khi cho rằng): ‘Tất cả đều do quả thành tựu của nghiệp;’ thiếu đi trí tuệ của đức Phật không thể thực hiện việc xác định đối với nghiệp ấy.
Tâu đại vương, hơn nữa việc bàn chân của đức Thế Tôn đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cảm thọ ấy không có nguồn sanh khởi là gió, không có nguồn sanh khởi là mật, không có nguồn sanh khởi là đàm, không có liên quan đến sự tụ hội (của gió, mật, đàm), không do sự thay đổi của mùa tiết, không do sự sinh hoạt không đều đặn, không do quả thành tựu của nghiệp, chỉ có liên quan đến việc ra sức. Tâu đại vương, bởi vì Devadatta đã buộc oan trái với đức Như Lai nhiều trăm ngàn kiếp sống. Do sự oan trái ấy, kẻ ấy đã cầm lấy hòn đá to nặng rồi buông ra (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ làm cho rơi ở đỉnh đầu.’ Khi ấy, có hai tảng đá khác đã tiến đến hứng chịu hòn đá ấy khi còn chưa chạm vào đức Như Lai. Do sự va chạm của chúng, có miểng đá bị bể đã rơi vào bàn chân của đức Thế Tôn và làm chảy máu. Tâu đại vương, thọ ấy nảy sanh đến đức Thế Tôn hoặc là do quả thành tựu của nghiệp hoặc là do hành động; không có thọ khác ở trên việc ấy.
Tâu đại vương, giống như hạt giống không nẩy mầm hoặc là do tính chất tồi tệ của thửa ruộng, hoặc là do tính chất tồi tệ của hạt giống. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ấy thọ ấy nảy sanh đến đức Thế Tôn hoặc là do quả thành tựu của nghiệp hoặc là do hành động; không có thọ khác ở trên việc ấy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như vật thực trở nên lổn cổn hoặc là do tính chất tồi tệ của bao tử, hoặc là do tính chất tồi tệ của thức ăn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ấy thọ ấy nảy sanh đến đức Thế Tôn hoặc là do quả thành tựu của nghiệp hoặc là do hành động; không có thọ khác ở trên việc ấy.
Tâu đại vương, hơn nữa đối với đức Thế Tôn không có thọ do quả thành tựu của nghiệp, không có thọ do sự sinh hoạt không đều đặn. Đối với đức Thế Tôn, thọ sanh lên do các nguồn sanh khởi còn lại. Hơn nữa, không thể đoạt lấy mạng sống đức Thế Tôn bởi thọ ấy. Tâu đại vương, các thọ được ưa thích hay không được ưa thích, tốt hay xấu, rơi xuống ở thân tứ đại này. Tâu đại vương, ở đây cục đất được ném lên không trung thì rơi xuống đại địa cầu. Tâu đại vương, phải chăng cục đất ấy rơi xuống đại địa cầu do nghiệp đã làm trước đây?”
BJT 5“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, không có nhân ấy ở đại địa cầu, mà do nhân ấy đại địa cầu nhận chịu quả thành tựu thiện hay bất thiện. Thưa ngài, cục đất ấy rơi xuống đại địa cầu do nhân hiện tại không có liên quan đến nghiệp.”
“Tâu đại vương, đại địa cầu là như thế nào thì đức Như Lai nên được xem xét như vậy. Giống như cục đất rơi xuống đại địa cầu không do nghiệp đã làm trước đây, tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai miểng đá ấy đã rơi xuống ở bàn chân không do nghiệp đã làm trước đây. Tâu đại vương, vả lại ở đây con người cắt xẻ và đào xới đại địa cầu, tâu đại vương, phải chăng con người cắt xẻ và đào xới đại địa cầu do nghiệp đã làm trước đây?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế ấy miểng đá nào đã rơi xuống ở bàn chân của đức Thế Tôn, miểng đá ấy đã rơi xuống ở bàn chân của đức Thế Tôn không do nghiệp đã làm trước đây. Tâu đại vương, còn cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi đến đức Thế Tôn, cơn bệnh ấy đã phát khởi không do nghiệp đã làm trước đây, nó đã phát khởi có liên quan đến chính sự tụ hội (của gió, mật, đàm). Tâu đại vương, mọi cơn bệnh thuộc về thân đã phát khởi ở đức Thế Tôn, chúng đã không sanh ra do nghiệp, mà đã được sanh ra từ nguồn sanh khởi nào đó trong số sáu nguồn sanh khởi. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở lời giải thích cho Moliyasīvaka ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Saṁyuttanikāya (Tương Ưng Bộ) rằng:
‘Này Sīvaka, ở đây, một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là mật. Này Sīvaka, tự bản thân nên biết về điều này là một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là mật. Này Sīvaka, ngay cả đối với thế gian điều này cũng được chấp nhận là sự thật rằng một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là mật. Này Sīvaka, về điều này những Sa-môn, Bà-la-môn nào có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Bất cứ điều gì mà người nam này cảm giác được, là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, tất cả điều ấy có nhân là việc đã làm trong quá khứ,’ họ vượt quá điều đã được tự mình biết, họ vượt quá điều đã được chấp nhận là sự thật ở thế gian. Vì thế, Ta nói rằng: ‘Điều sai trái thuộc về các Sa-môn, Bà-la-môn ấy.’ Này Sīvaka, ở đây, một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là đàm. Này Sīvak … (như trên) … có nguồn sanh khởi là gió. Này Sīvak … (như trên) … có nguồn sanh khởi là sự tụ hội (của gió, mật, đàm). Này Sīvak … (như trên) … do sự thay đổi của mùa tiết. Này Sīvak … (như trên) … do sự sinh hoạt không đều đặn. Này Sīvak … (như trên) … có liên quan đến việc ra sức. Này Sīvaka một số cảm thọ sanh lên do quả thành tựu của nghiệp. Này Sīvaka tự bản thân nên biết về điều này là một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là quả thành tựu của nghiệp. Này Sīvaka, ngay cả đối với thế gian điều này cũng được chấp nhận là sự thật rằng một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là quả thành tựu của nghiệp. Này Sīvaka, về điều này những Sa-môn, Bà-la-môn nào có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Bất cứ điều gì mà người nam này cảm giác được, là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, tất cả điều ấy có nhân là việc đã làm trong quá khứ,’ họ vượt quá điều đã được tự mình biết, họ vượt quá điều đã được chấp nhận là sự thật ở thế gian. Vì thế, Ta nói rằng: ‘Điều sai trái thuộc về các Sa-môn, Bà-la-môn ấy.’
Tâu đại vương, như thế không hẳn tất cả các thọ sanh ra do quả thành tựu của nghiệp. Tâu đại vương, sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện, đức Thế Tôn đã đạt đến bản thể Toàn Tri, xin đại vương hãy ghi nhớ điều này như thế.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự cắt đứt pháp bất thiện là thứ tám.
“Bhante nāgasena, tathāgato sabbaṁ akusalaṁ jhāpetvā sabbaññutaṁ patto, udāhu sāvasese akusale sabbaññutaṁ patto”ti?
“Sabbaṁ, mahārāja, akusalaṁ jhāpetvā bhagavā sabbaññutaṁ patto, natthi bhagavato sesakaṁ akusalan”ti.
“Kiṁ pana, bhante, dukkhā vedanā tathāgatassa kāye uppannapubbā”ti?
“Āma, mahārāja, rājagahe bhagavato pādo sakalikāya khato, lohitapakkhandikābādho uppanno, kāye abhisanne jīvakena vireko kārito, vātābādhe uppanne upaṭṭhākena therena uṇhodakaṁ pariyiṭṭhan”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, tathāgato sabbaṁ akusalaṁ jhāpetvā sabbaññutaṁ patto, tena hi bhagavato pādo sakalikāya khato, lohitapakkhandikā ca ābādho uppannoti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatassa pādo sakalikāya khato, lohitapakkhandikā ca ābādho uppanno, tena hi tathāgato sabbaṁ akusalaṁ jhāpetvā sabbaññutaṁ pattoti tampi vacanaṁ micchā.
Natthi, bhante, vinā kammena vedayitaṁ, sabbaṁ taṁ vedayitaṁ kammamūlakaṁ, taṁ kammeneva vedayati, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Na hi, mahārāja, sabbaṁ taṁ vedayitaṁ kammamūlakaṁ.
Aṭṭhahi, mahārāja, kāraṇehi vedayitāni uppajjanti, yehi kāraṇehi puthū sattā vedanā vediyanti.
Katamehi aṭṭhahi?
Vātasamuṭṭhānānipi kho, mahārāja, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti,
pittasamuṭṭhānānipi kho, mahārāja …pe…
semhasamuṭṭhānānipi kho, mahārāja …pe…
sannipātikānipi kho, mahārāja …pe…
utupariṇāmajānipi kho, mahārāja …pe…
visamaparihārajānipi kho, mahārāja …pe…
opakkamikānipi kho, mahārāja …pe…
kammavipākajānipi kho, mahārāja, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Imehi kho, mahārāja, aṭṭhahi kāraṇehi puthū sattā vedanā vedayanti.
Tattha ye te puggalā ‘satte kammaṁ vibādhatī’ti vadeyyuṁ, te ime puggalā sattakāraṇaṁ paṭibāhanti.
Tesaṁ taṁ vacanaṁ micchā”ti.
“Bhante nāgasena, yañca vātikaṁ yañca pittikaṁ yañca semhikaṁ yañca sannipātikaṁ yañca utupariṇāmajaṁ yañca visamaparihārajaṁ yañca opakkamikaṁ, sabbete kammasamuṭṭhānāyeva, kammeneva te sabbe sambhavantī”ti.
“Yadi, mahārāja, tepi sabbe kammasamuṭṭhānāva ābādhā bhaveyyuṁ, na tesaṁ koṭṭhāsato lakkhaṇāni bhaveyyuṁ.
Vāto kho, mahārāja, kuppamāno dasavidhena kuppati sītena uṇhena jighacchāya pipāsāya atibhuttena ṭhānena padhānena ādhāvanena upakkamena kammavipākena.
Tatra ye te nava vidhā, na te atīte, na anāgate, vattamānake bhave uppajjanti, tasmā na vattabbā ‘kammasambhavā sabbā vedanā’ti.
Pittaṁ, mahārāja, kuppamānaṁ tividhena kuppati sītena uṇhena visamabhojanena.
Semhaṁ, mahārāja, kuppamānaṁ tividhena kuppati sītena uṇhena annapānena.
Yo ca, mahārāja, vāto yañca pittaṁ yañca semhaṁ, tehi tehi kopehi kuppitvā missī hutvā sakaṁ sakaṁ vedanaṁ ākaḍḍhati.
Utupariṇāmajā, mahārāja, vedanā utupariṇāmena uppajjati.
Visamaparihārajā vedanā visamaparihārena uppajjati.
Opakkamikā, mahārāja, vedanā atthi kiriyā, atthi kammavipākā, kammavipākajā vedanā pubbe katena kammena uppajjati.
Iti kho, mahārāja, appaṁ kammavipākajaṁ, bahutaraṁ avasesaṁ.
Tattha bālā ‘sabbaṁ kammavipākajaṁ yevā’ti atidhāvanti.
Taṁ kammaṁ na sakkā vinā buddhañāṇena vavatthānaṁ kātuṁ.
Yaṁ pana, mahārāja, bhagavato pādo sakalikāya khato, taṁ vedayitaṁ neva vātasamuṭṭhānaṁ, na pittasamuṭṭhānaṁ, na semhasamuṭṭhānaṁ, na sannipātikaṁ, na utupariṇāmajaṁ, na visamaparihārajaṁ, na kammavipākajaṁ, opakkamikaṁyeva.
Devadatto hi, mahārāja, bahūni jātisatasahassāni tathāgate āghātaṁ bandhi, so tena āghātena mahatiṁ garuṁ silaṁ gahetvā ‘matthake pātessāmī’ti muñci, athaññe dve selā āgantvā taṁ silaṁ tathāgataṁ asampattaṁyeva sampaṭicchiṁsu, tāsaṁ pahārena papaṭikā bhijjitvā bhagavato pāde patitvā ruhiraṁ uppādesi, kammavipākato vā, mahārāja, bhagavato esā vedanā nibbattā kiriyato vā, tatuddhaṁ natthaññā vedanā.
Yathā, mahārāja, khettaduṭṭhatāya vā bījaṁ na sambhavati bījaduṭṭhatāya vā;
evameva kho, mahārāja, kammavipākato vā bhagavato esā vedanā nibbattā kiriyato vā, tatuddhaṁ natthaññā vedanā.
Yathā vā pana, mahārāja, koṭṭhaduṭṭhatāya vā bhojanaṁ visamaṁ pariṇamati āhāraduṭṭhatāya vā;
evameva kho, mahārāja, kammavipākato vā bhagavato esā vedanā nibbattā kiriyato vā, tatuddhaṁ natthaññā vedanā.
Api ca, mahārāja, natthi bhagavato kammavipākajā vedanā, natthi visamaparihārajā vedanā, avasesehi samuṭṭhānehi bhagavato vedanā uppajjati, tāya ca pana vedanāya na sakkā bhagavantaṁ jīvitā voropetuṁ.
Nipatanti, mahārāja, imasmiṁ cātumahābhūtike kāye iṭṭhāniṭṭhā subhāsubhavedanā.
Idha, mahārāja, ākāse khitto leḍḍu mahāpathaviyā nipatati, api nu kho so, mahārāja, leḍḍu pubbe katena mahāpathaviyā nipatī”ti?
“Na hi, bhante, natthi so, bhante, hetu mahāpathaviyā, yena hetunā mahāpathavī kusalākusalavipākaṁ paṭisaṁvedeyya, paccuppannena, bhante, akammakena hetunā so leḍḍu mahāpathaviyaṁ nipatati”.
“Yathā, mahārāja, mahāpathavī, evaṁ tathāgato daṭṭhabbo.
Yathā leḍḍu pubbe akatena mahāpathaviyaṁ nipatati;
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa pubbe akatena sā sakalikā pāde nipatitā.
Idha pana, mahārāja, manussā mahāpathaviṁ bhindanti ca khaṇanti ca, api nu kho, mahārāja, te manussā pubbe katena mahāpathaviṁ bhindanti ca khaṇanti cā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yā sā sakalikā bhagavato pāde nipatitā, na sā sakalikā pubbe katena bhagavato pāde nipatitā.
Yopi, mahārāja, bhagavato lohitapakkhandikābādho uppanno, sopi ābādho na pubbe katena uppanno, sannipātikeneva uppanno, ye keci, mahārāja, bhagavato kāyikā ābādhā uppannā, na te kammābhinibbattā, channaṁ etesaṁ samuṭṭhānānaṁ aññatarato nibbattā.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavaralañchake moḷiyasīvake veyyākaraṇe—
‘Pittasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Sāmampi kho etaṁ, sīvaka, veditabbaṁ, yathā pittasamuṭṭhānānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Lokassapi kho etaṁ, sīvaka, saccasammataṁ, yathā pittasamuṭṭhānānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Tatra, sīvaka, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbe katahetū”ti.
Yañca sāmaṁ ñātaṁ, tañca atidhāvanti, yañca loke saccasammataṁ, tañca atidhāvanti.
Tasmā tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ micchāti vadāmi.
Semhasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Vātasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka …pe…
sannipātikānipi kho, sīvaka …pe…
utupariṇāmajānipi kho, sīvaka …pe…
visamaparihārajānipi kho, sīvaka …pe…
opakkamikānipi kho, sīvaka …pe…
kammavipākajānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Sāmampi kho etaṁ, sīvaka, veditabbaṁ, yathā kammavipākajānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Lokassapi kho etaṁ, sīvaka, saccasammataṁ, yathā kammavipākajānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Tatra, sīvaka, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbe katahetū”ti.
Yañca sāmaṁ ñātaṁ, tañca atidhāvanti, yañca loke saccasammataṁ, tañca atidhāvanti.
Tasmā tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ micchāti vadāmī’ti.
Itipi, mahārāja, na sabbā vedanā kammavipākajā, sabbaṁ, mahārāja, akusalaṁ jhāpetvā bhagavā sabbaññutaṁ pattoti evametaṁ dhārehī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Akusalacchedanapañho aṭṭhamo.
PTS cs 62 ‘Venerable Nāgasena, had the Blessed One, when he became a Buddha, burnt out all evil in himself, or was there still some evil remaining in him?’ PTS vp En 191
‘He had burnt out all evil. There was none left.’
‘But how, Sir? Did not the Tathāgata get hurt in his body?’
‘Yes, O king. At Rājagaha a splinter of rock pierced his foot, and once he suffered from dysentery, and once when the humours of his body were disturbed a purge was administered to him, and once when he was troubled with wind the Elder who waited on him (that is Ānanda) gave him hot water.’
‘Then, Sir, if the Tathāgata, on his becoming a Buddha, has destroyed all evil in himself—this other statement that his foot was pierced by a splinter, that he had dysentery, and so on, must be false. But if they are true, then he cannot have been free from evil, for there is no pain without Karma. All pain has its root in Karma, it is on account of Karma that suffering arises. This double-headed dilemma is put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 63 ‘No, O king. It is not all suffering that has its root in Karma. There are eight causes by which sufferings arise, by which many beings suffer pain. And what are the eight? Superabundance of wind, PTS vp Pali 135 and of bile, and of phlegm, the union of these humours, variations in temperature, the avoiding of PTS vp En 192 dissimilarities, external agency, and Karma. From each of these there are some sufferings that arise, and these are the eight causes by which many beings suffer pain. And therein whosoever maintains that it is Karma that injures beings, and besides it there is no other reason for pain, his proposition is false.’
‘But, Sir, all the other seven kinds of pain have each of them also Karma as its origin, for they are all produced by Karma.’
‘If, O king, all diseases were really derived from Karma then there would be no characteristic marks by which they could be distinguished one from the other. When the wind is disturbed, it is so in one or other of ten ways—by cold, or by heat, or by hunger, or by thirst, or by over eating, or by standing too long, or by over exertion, or by walking too fast, or by medical treatment, or as the result of Karma. Of these ten, nine do not act in a past life or in a future life, but in one’s present existence. Therefore it is not right to say that all pain is due to Karma. When the bile, O king, is deranged it is so in one or other of three ways—by cold, or by heat, or by improper food. When the phlegm is disturbed it is so by cold, or by heat, or by food and drink. When either of these three humours are disturbed or mixed, it brings about its own special, distinctive pain. Then there are the special pains arising from variations in temperature, avoidance of dissimilarities, and external agency. And there is the act that has Karma as its fruit, and the pain so brought about arising from the act done. So what PTS vp En 193 arises as the fruit of Karma is much less than that which arises from other causes. And the ignorant go too far PTS vp Pali 136 when they say that every pain is produced as the fruit of Karma. No one without a Buddha’s insight can fix the extent of the action of Karma.’
PTS cs 64 ‘Now when the Blessed One’s foot was torn by a splinter of rock, the pain that followed was not produced by any other of the eight causes I have mentioned, but only by external agency. For Devadatta, O king, had harboured hatred against the Tathāgata during a succession of hundreds of thousands of births. It was in his hatred that he seized hold of a mighty mass of rock, and pushed it over with the hope that it would fall upon his head. But two other rocks came together, and intercepted it before it had reached the Tathāgata; and by the force of their impact a splinter was torn off, and fell upon the Blessed One’s foot, and made it bleed. Now this pain must have been produced in the Blessed One either as the result of his own Karma, or of some one else’s act. For beyond these two there can be no other kind of pain. It is as when a seed does not germinate—that must be due either to the badness of the soil, or to a defect in the seed. Or it is as when food is not digested—that must be due either to a defect in the stomach, or to the badness of the food.’
PTS cs 65 ‘But although the Blessed One never suffered pain which was the result of his own Karma, or brought about the avoidance of dissimilarity, yet PTS vp En 194 he suffered pain from each of the other six causes. And by the pain he could suffer it was not possible to deprive him of life. There come to this body of ours, O king, compounded of the four elements, sensations desirable and the reverse, pleasant and unpleasant. Suppose, O king, a clod of earth were to be thrown into the air, and to fall again on to the ground. Would it be in consequence of any act it had previously done that it would so fall?’
‘No, Sir. There is no reason in the broad earth by which it could experience the result of an act either good or evil. It would be by reason of a present cause PTS vp Pali 137 independent of Karma that the clod would fall to earth again.’
‘Well, O king, the Tathāgata should be regarded as the broad earth. And as the clod would fall on it irrespective of any act done by it, so also was it irrespective of any act done by him that that splinter of rock fell upon his foot.’
PTS cs 66 ‘Again, O king, men tear up and plough the earth. But is that a result of any act previously done?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Just so with the falling of that splinter. And the dysentery which attacked him was in the same way the result of no previous act, it arose from the union of the three humours. And whatsoever bodily disease fell upon him, that had its origin, not in Karma, but in one or other of the six causes referred to. For it has been said, O king, by the Blessed One, by him who is above all gods, in the glorious collection called the Samyutta Nikāya in PTS vp En 195 The prose Sutta, called after Moliya Sīvaka: “There are certain pains which arise in the world, Sīvaka, from bilious humour. And you ought to know for a certainty which those are, for it is a matter of common knowledge in the world which they are. But those Samanas and Brahmans, Sīvaka, who are of the opinion and proclaim the view that whatsoever pleasure, or pain, or indifferent sensation, any man experiences, is always due to a previous act—they go beyond certainty, they go beyond knowledge, and therein do I say they are wrong. And so also of those pains which arise from the phlegmatic humour, or from the windy humour, or from the union of the three, or from variation in temperature, or from avoidance of dissimilarity, PTS vp Pali 138 or from external action, or as the result of Karma. In each case you should know for a certainty which those are, for it is a matter of common knowledge which they are. But those Samanas or Brahmans who are of the opinion or the view that whatsoever pleasure, or pain, or indifferent sensation, any man may experience, that is always due to a previous act—they go beyond certainty, they go beyond common knowledge. And therein do I say they are wrong.” So, O king, it is not all pain that is the result of Karma. And you should accept as a fact that when the Blessed One became a Buddha he had burnt out all evil from within him.’
‘Very good, Nāgasena! It is so; and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the Buddha’s sinlessness.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, đức Thế Tôn đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện, hay là đã đạt đến bản thể Toàn Tri khi pháp bất thiện còn dư sót.”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện. Không có pháp bất thiện còn dư sót ở đức Thế Tôn.”
“Thưa ngài, phải chăng các thọ khổ trước đây đã khởi lên ở cơ thể của đức Như Lai?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Ở Rājagaha, bàn chân của đức Thế Tôn đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi, khi cơ thể bị tiết ra chất dơ Jīvaka đã cho sử dụng liều thuốc xổ, khi cơn bệnh gió phát khởi vị trưởng lão thị giả đã tìm kiếm nước nóng.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện, như thế thì lời nói rằng: ‘Bàn chân của đức Thế Tôn đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi’ là sai trái. Nếu bàn chân của đức Như Lai đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi, như thế thì lời nói: ‘Đức Như Lai đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện’ cũng là sai trái. Thưa ngài, không có cảm thọ tách rời khỏi nghiệp, tất cả cảm thọ ấy có gốc rễ ở nghiệp, được cảm nhận chỉ do nghiệp. Câu hỏi này có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 3“Tâu đại vương, không hẳn tất cả cảm thọ ấy có gốc rễ ở nghiệp. Tâu đại vương, các cảm thọ sanh lên do tám lý do, do các lý do ấy chúng sanh phàm phu cảm nhận các thọ. Do tám lý do nào? Tâu đại vương, một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là gió; tâu đại vươn … (như trên) … có nguồn sanh khởi là mật; tâu đại vươn … (như trên) … có nguồn sanh khởi là đàm; tâu đại vươn … (như trên) … có liên quan đến sự tụ hội (của gió, mật, đàm); tâu đại vươn … (như trên) … do sự thay đổi của mùa tiết; tâu đại vươn … (như trên) … do sự sinh hoạt không đều đặn; tâu đại vươn … (như trên) … có liên quan đến việc ra sức; tâu đại vương một số cảm thọ sanh lên do quả thành tựu của nghiệp. Tâu đại vương, do tám lý do này chúng sanh phàm phu cảm nhận các thọ. Ở đây, những chúng sanh nào nói rằng: ‘Nghiệp đày đọa các chúng sanh,’ những người ấy phủ nhận lý do. Lời nói ấy của những người ấy là sai trái.
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, việc có liên quan đến gió, việc có liên quan đến mật, việc có liên quan đến đàm, việc có liên quan đến sự tụ hội (của gió, mật, đàm), việc do sự thay đổi của mùa tiết, việc do sự sinh hoạt không đều đặn, việc có liên quan đến việc ra sức, tất cả các việc ấy có nguồn sanh khởi cũng ở nghiệp, tất cả các việc ấy tạo thành cũng do nghiệp.”
“Tâu đại vương, nếu tất cả các bệnh tật ấy có nguồn sanh khởi chỉ là nghiệp, thì chúng không có các đặc điểm để phân loại. Tâu đại vương, gió trong khi bị rối loạn thì bị rối loạn theo mười cách: do lạnh, do nóng, do đói, do khát, do ăn quá độ, đo đứng, do tinh tấn, do chạy, do việc ra sức, do quả thành tựu của nghiệp. Trong số đó, có chín cách sanh lên không ở quá khứ, không ở vị lai, mà ở bản thể hiện tại. Vì thế, không nên nói rằng: ‘Tất cả các thọ có sự tạo thành do nghiệp.’
Tâu đại vương, mật trong khi bị rối loạn thì bị rối loạn theo ba cách: do lạnh, do nóng, do vật thực không đều. Tâu đại vương, đàm trong khi bị rối loạn thì bị rối loạn theo ba cách: do lạnh, do nóng, do thức ăn thức uống. Tâu đại vương, cái nào là gió, cái nào là mật, cái nào là đàm, sau khi bị rối loạn do các sự rối loạn bởi chúng, sau khi có sự trộn lẫn thì kéo theo thọ của từng cái một. Tâu đại vương, thọ do sự thay đổi của mùa tiết sanh lên do sự thay đổi của mùa tiết, thọ do sự sinh hoạt không đều đặn sanh lên do sự sinh hoạt không đều đặn. Tâu đại vương, thọ có liên quan đến việc ra sức thì có cái do hành động, có cái do quả thành tựu của nghiệp. Thọ sanh lên do quả thành tựu của nghiệp sanh lên do nghiệp đã làm trước đây. Tâu đại vương, như thế do quả thành tựu của nghiệp thì ít, phần còn lại thì nhiều hơn. Ở đây, những kẻ ngu vượt quá (khi cho rằng): ‘Tất cả đều do quả thành tựu của nghiệp;’ thiếu đi trí tuệ của đức Phật không thể thực hiện việc xác định đối với nghiệp ấy.
Tâu đại vương, hơn nữa việc bàn chân của đức Thế Tôn đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cảm thọ ấy không có nguồn sanh khởi là gió, không có nguồn sanh khởi là mật, không có nguồn sanh khởi là đàm, không có liên quan đến sự tụ hội (của gió, mật, đàm), không do sự thay đổi của mùa tiết, không do sự sinh hoạt không đều đặn, không do quả thành tựu của nghiệp, chỉ có liên quan đến việc ra sức. Tâu đại vương, bởi vì Devadatta đã buộc oan trái với đức Như Lai nhiều trăm ngàn kiếp sống. Do sự oan trái ấy, kẻ ấy đã cầm lấy hòn đá to nặng rồi buông ra (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ làm cho rơi ở đỉnh đầu.’ Khi ấy, có hai tảng đá khác đã tiến đến hứng chịu hòn đá ấy khi còn chưa chạm vào đức Như Lai. Do sự va chạm của chúng, có miểng đá bị bể đã rơi vào bàn chân của đức Thế Tôn và làm chảy máu. Tâu đại vương, thọ ấy nảy sanh đến đức Thế Tôn hoặc là do quả thành tựu của nghiệp hoặc là do hành động; không có thọ khác ở trên việc ấy.
Tâu đại vương, giống như hạt giống không nẩy mầm hoặc là do tính chất tồi tệ của thửa ruộng, hoặc là do tính chất tồi tệ của hạt giống. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ấy thọ ấy nảy sanh đến đức Thế Tôn hoặc là do quả thành tựu của nghiệp hoặc là do hành động; không có thọ khác ở trên việc ấy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như vật thực trở nên lổn cổn hoặc là do tính chất tồi tệ của bao tử, hoặc là do tính chất tồi tệ của thức ăn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ấy thọ ấy nảy sanh đến đức Thế Tôn hoặc là do quả thành tựu của nghiệp hoặc là do hành động; không có thọ khác ở trên việc ấy.
Tâu đại vương, hơn nữa đối với đức Thế Tôn không có thọ do quả thành tựu của nghiệp, không có thọ do sự sinh hoạt không đều đặn. Đối với đức Thế Tôn, thọ sanh lên do các nguồn sanh khởi còn lại. Hơn nữa, không thể đoạt lấy mạng sống đức Thế Tôn bởi thọ ấy. Tâu đại vương, các thọ được ưa thích hay không được ưa thích, tốt hay xấu, rơi xuống ở thân tứ đại này. Tâu đại vương, ở đây cục đất được ném lên không trung thì rơi xuống đại địa cầu. Tâu đại vương, phải chăng cục đất ấy rơi xuống đại địa cầu do nghiệp đã làm trước đây?”
BJT 5“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, không có nhân ấy ở đại địa cầu, mà do nhân ấy đại địa cầu nhận chịu quả thành tựu thiện hay bất thiện. Thưa ngài, cục đất ấy rơi xuống đại địa cầu do nhân hiện tại không có liên quan đến nghiệp.”
“Tâu đại vương, đại địa cầu là như thế nào thì đức Như Lai nên được xem xét như vậy. Giống như cục đất rơi xuống đại địa cầu không do nghiệp đã làm trước đây, tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai miểng đá ấy đã rơi xuống ở bàn chân không do nghiệp đã làm trước đây. Tâu đại vương, vả lại ở đây con người cắt xẻ và đào xới đại địa cầu, tâu đại vương, phải chăng con người cắt xẻ và đào xới đại địa cầu do nghiệp đã làm trước đây?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế ấy miểng đá nào đã rơi xuống ở bàn chân của đức Thế Tôn, miểng đá ấy đã rơi xuống ở bàn chân của đức Thế Tôn không do nghiệp đã làm trước đây. Tâu đại vương, còn cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi đến đức Thế Tôn, cơn bệnh ấy đã phát khởi không do nghiệp đã làm trước đây, nó đã phát khởi có liên quan đến chính sự tụ hội (của gió, mật, đàm). Tâu đại vương, mọi cơn bệnh thuộc về thân đã phát khởi ở đức Thế Tôn, chúng đã không sanh ra do nghiệp, mà đã được sanh ra từ nguồn sanh khởi nào đó trong số sáu nguồn sanh khởi. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở lời giải thích cho Moliyasīvaka ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Saṁyuttanikāya (Tương Ưng Bộ) rằng:
‘Này Sīvaka, ở đây, một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là mật. Này Sīvaka, tự bản thân nên biết về điều này là một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là mật. Này Sīvaka, ngay cả đối với thế gian điều này cũng được chấp nhận là sự thật rằng một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là mật. Này Sīvaka, về điều này những Sa-môn, Bà-la-môn nào có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Bất cứ điều gì mà người nam này cảm giác được, là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, tất cả điều ấy có nhân là việc đã làm trong quá khứ,’ họ vượt quá điều đã được tự mình biết, họ vượt quá điều đã được chấp nhận là sự thật ở thế gian. Vì thế, Ta nói rằng: ‘Điều sai trái thuộc về các Sa-môn, Bà-la-môn ấy.’ Này Sīvaka, ở đây, một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là đàm. Này Sīvak … (như trên) … có nguồn sanh khởi là gió. Này Sīvak … (như trên) … có nguồn sanh khởi là sự tụ hội (của gió, mật, đàm). Này Sīvak … (như trên) … do sự thay đổi của mùa tiết. Này Sīvak … (như trên) … do sự sinh hoạt không đều đặn. Này Sīvak … (như trên) … có liên quan đến việc ra sức. Này Sīvaka một số cảm thọ sanh lên do quả thành tựu của nghiệp. Này Sīvaka tự bản thân nên biết về điều này là một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là quả thành tựu của nghiệp. Này Sīvaka, ngay cả đối với thế gian điều này cũng được chấp nhận là sự thật rằng một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là quả thành tựu của nghiệp. Này Sīvaka, về điều này những Sa-môn, Bà-la-môn nào có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Bất cứ điều gì mà người nam này cảm giác được, là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, tất cả điều ấy có nhân là việc đã làm trong quá khứ,’ họ vượt quá điều đã được tự mình biết, họ vượt quá điều đã được chấp nhận là sự thật ở thế gian. Vì thế, Ta nói rằng: ‘Điều sai trái thuộc về các Sa-môn, Bà-la-môn ấy.’
Tâu đại vương, như thế không hẳn tất cả các thọ sanh ra do quả thành tựu của nghiệp. Tâu đại vương, sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện, đức Thế Tôn đã đạt đến bản thể Toàn Tri, xin đại vương hãy ghi nhớ điều này như thế.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự cắt đứt pháp bất thiện là thứ tám.
“Bhante nāgasena, tathāgato sabbaṁ akusalaṁ jhāpetvā sabbaññutaṁ patto, udāhu sāvasese akusale sabbaññutaṁ patto”ti?
“Sabbaṁ, mahārāja, akusalaṁ jhāpetvā bhagavā sabbaññutaṁ patto, natthi bhagavato sesakaṁ akusalan”ti.
“Kiṁ pana, bhante, dukkhā vedanā tathāgatassa kāye uppannapubbā”ti?
“Āma, mahārāja, rājagahe bhagavato pādo sakalikāya khato, lohitapakkhandikābādho uppanno, kāye abhisanne jīvakena vireko kārito, vātābādhe uppanne upaṭṭhākena therena uṇhodakaṁ pariyiṭṭhan”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, tathāgato sabbaṁ akusalaṁ jhāpetvā sabbaññutaṁ patto, tena hi bhagavato pādo sakalikāya khato, lohitapakkhandikā ca ābādho uppannoti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatassa pādo sakalikāya khato, lohitapakkhandikā ca ābādho uppanno, tena hi tathāgato sabbaṁ akusalaṁ jhāpetvā sabbaññutaṁ pattoti tampi vacanaṁ micchā.
Natthi, bhante, vinā kammena vedayitaṁ, sabbaṁ taṁ vedayitaṁ kammamūlakaṁ, taṁ kammeneva vedayati, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Na hi, mahārāja, sabbaṁ taṁ vedayitaṁ kammamūlakaṁ.
Aṭṭhahi, mahārāja, kāraṇehi vedayitāni uppajjanti, yehi kāraṇehi puthū sattā vedanā vediyanti.
Katamehi aṭṭhahi?
Vātasamuṭṭhānānipi kho, mahārāja, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti,
pittasamuṭṭhānānipi kho, mahārāja …pe…
semhasamuṭṭhānānipi kho, mahārāja …pe…
sannipātikānipi kho, mahārāja …pe…
utupariṇāmajānipi kho, mahārāja …pe…
visamaparihārajānipi kho, mahārāja …pe…
opakkamikānipi kho, mahārāja …pe…
kammavipākajānipi kho, mahārāja, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Imehi kho, mahārāja, aṭṭhahi kāraṇehi puthū sattā vedanā vedayanti.
Tattha ye te puggalā ‘satte kammaṁ vibādhatī’ti vadeyyuṁ, te ime puggalā sattakāraṇaṁ paṭibāhanti.
Tesaṁ taṁ vacanaṁ micchā”ti.
“Bhante nāgasena, yañca vātikaṁ yañca pittikaṁ yañca semhikaṁ yañca sannipātikaṁ yañca utupariṇāmajaṁ yañca visamaparihārajaṁ yañca opakkamikaṁ, sabbete kammasamuṭṭhānāyeva, kammeneva te sabbe sambhavantī”ti.
“Yadi, mahārāja, tepi sabbe kammasamuṭṭhānāva ābādhā bhaveyyuṁ, na tesaṁ koṭṭhāsato lakkhaṇāni bhaveyyuṁ.
Vāto kho, mahārāja, kuppamāno dasavidhena kuppati sītena uṇhena jighacchāya pipāsāya atibhuttena ṭhānena padhānena ādhāvanena upakkamena kammavipākena.
Tatra ye te nava vidhā, na te atīte, na anāgate, vattamānake bhave uppajjanti, tasmā na vattabbā ‘kammasambhavā sabbā vedanā’ti.
Pittaṁ, mahārāja, kuppamānaṁ tividhena kuppati sītena uṇhena visamabhojanena.
Semhaṁ, mahārāja, kuppamānaṁ tividhena kuppati sītena uṇhena annapānena.
Yo ca, mahārāja, vāto yañca pittaṁ yañca semhaṁ, tehi tehi kopehi kuppitvā missī hutvā sakaṁ sakaṁ vedanaṁ ākaḍḍhati.
Utupariṇāmajā, mahārāja, vedanā utupariṇāmena uppajjati.
Visamaparihārajā vedanā visamaparihārena uppajjati.
Opakkamikā, mahārāja, vedanā atthi kiriyā, atthi kammavipākā, kammavipākajā vedanā pubbe katena kammena uppajjati.
Iti kho, mahārāja, appaṁ kammavipākajaṁ, bahutaraṁ avasesaṁ.
Tattha bālā ‘sabbaṁ kammavipākajaṁ yevā’ti atidhāvanti.
Taṁ kammaṁ na sakkā vinā buddhañāṇena vavatthānaṁ kātuṁ.
Yaṁ pana, mahārāja, bhagavato pādo sakalikāya khato, taṁ vedayitaṁ neva vātasamuṭṭhānaṁ, na pittasamuṭṭhānaṁ, na semhasamuṭṭhānaṁ, na sannipātikaṁ, na utupariṇāmajaṁ, na visamaparihārajaṁ, na kammavipākajaṁ, opakkamikaṁyeva.
Devadatto hi, mahārāja, bahūni jātisatasahassāni tathāgate āghātaṁ bandhi, so tena āghātena mahatiṁ garuṁ silaṁ gahetvā ‘matthake pātessāmī’ti muñci, athaññe dve selā āgantvā taṁ silaṁ tathāgataṁ asampattaṁyeva sampaṭicchiṁsu, tāsaṁ pahārena papaṭikā bhijjitvā bhagavato pāde patitvā ruhiraṁ uppādesi, kammavipākato vā, mahārāja, bhagavato esā vedanā nibbattā kiriyato vā, tatuddhaṁ natthaññā vedanā.
Yathā, mahārāja, khettaduṭṭhatāya vā bījaṁ na sambhavati bījaduṭṭhatāya vā;
evameva kho, mahārāja, kammavipākato vā bhagavato esā vedanā nibbattā kiriyato vā, tatuddhaṁ natthaññā vedanā.
Yathā vā pana, mahārāja, koṭṭhaduṭṭhatāya vā bhojanaṁ visamaṁ pariṇamati āhāraduṭṭhatāya vā;
evameva kho, mahārāja, kammavipākato vā bhagavato esā vedanā nibbattā kiriyato vā, tatuddhaṁ natthaññā vedanā.
Api ca, mahārāja, natthi bhagavato kammavipākajā vedanā, natthi visamaparihārajā vedanā, avasesehi samuṭṭhānehi bhagavato vedanā uppajjati, tāya ca pana vedanāya na sakkā bhagavantaṁ jīvitā voropetuṁ.
Nipatanti, mahārāja, imasmiṁ cātumahābhūtike kāye iṭṭhāniṭṭhā subhāsubhavedanā.
Idha, mahārāja, ākāse khitto leḍḍu mahāpathaviyā nipatati, api nu kho so, mahārāja, leḍḍu pubbe katena mahāpathaviyā nipatī”ti?
“Na hi, bhante, natthi so, bhante, hetu mahāpathaviyā, yena hetunā mahāpathavī kusalākusalavipākaṁ paṭisaṁvedeyya, paccuppannena, bhante, akammakena hetunā so leḍḍu mahāpathaviyaṁ nipatati”.
“Yathā, mahārāja, mahāpathavī, evaṁ tathāgato daṭṭhabbo.
Yathā leḍḍu pubbe akatena mahāpathaviyaṁ nipatati;
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa pubbe akatena sā sakalikā pāde nipatitā.
Idha pana, mahārāja, manussā mahāpathaviṁ bhindanti ca khaṇanti ca, api nu kho, mahārāja, te manussā pubbe katena mahāpathaviṁ bhindanti ca khaṇanti cā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yā sā sakalikā bhagavato pāde nipatitā, na sā sakalikā pubbe katena bhagavato pāde nipatitā.
Yopi, mahārāja, bhagavato lohitapakkhandikābādho uppanno, sopi ābādho na pubbe katena uppanno, sannipātikeneva uppanno, ye keci, mahārāja, bhagavato kāyikā ābādhā uppannā, na te kammābhinibbattā, channaṁ etesaṁ samuṭṭhānānaṁ aññatarato nibbattā.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavaralañchake moḷiyasīvake veyyākaraṇe—
‘Pittasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Sāmampi kho etaṁ, sīvaka, veditabbaṁ, yathā pittasamuṭṭhānānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Lokassapi kho etaṁ, sīvaka, saccasammataṁ, yathā pittasamuṭṭhānānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Tatra, sīvaka, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbe katahetū”ti.
Yañca sāmaṁ ñātaṁ, tañca atidhāvanti, yañca loke saccasammataṁ, tañca atidhāvanti.
Tasmā tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ micchāti vadāmi.
Semhasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Vātasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka …pe…
sannipātikānipi kho, sīvaka …pe…
utupariṇāmajānipi kho, sīvaka …pe…
visamaparihārajānipi kho, sīvaka …pe…
opakkamikānipi kho, sīvaka …pe…
kammavipākajānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Sāmampi kho etaṁ, sīvaka, veditabbaṁ, yathā kammavipākajānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Lokassapi kho etaṁ, sīvaka, saccasammataṁ, yathā kammavipākajānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti.
Tatra, sīvaka, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino “yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbe katahetū”ti.
Yañca sāmaṁ ñātaṁ, tañca atidhāvanti, yañca loke saccasammataṁ, tañca atidhāvanti.
Tasmā tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ micchāti vadāmī’ti.
Itipi, mahārāja, na sabbā vedanā kammavipākajā, sabbaṁ, mahārāja, akusalaṁ jhāpetvā bhagavā sabbaññutaṁ pattoti evametaṁ dhārehī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Akusalacchedanapañho aṭṭhamo.