BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của cái neo thuyền nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như cái neo thuyền giữ chặt, duy trì con thuyền ở nơi biển cả to lớn khổng lồ, trên mặt nước bị hỗn độn, bị khuấy động bởi những đợt dồn dập của nhiều làn sóng, không cho lôi đi theo hướng chính hướng phụ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên giữ chặt tâm ở sự xung đột lớn lao vĩ đại của các suy tư, ở sự dồn dập của những làn sóng luyến ái, sân hận, si mê, không cho lôi đi theo hướng chính hướng phụ. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của cái neo thuyền nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa cái neo thuyền không nổi lên, nó chìm xuống thậm chí cả trăm cánh tay ở trong nước, nó giữ chặt con thuyền, duy trì ở vị trí. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập không nên nổi lên ở trên đỉnh của lợi lộc, ở trên đỉnh của danh vọng, ở các sự lợi lộc, danh vọng, tôn vinh, kính nể, đảnh lễ, cúng dường, trọng vọng, nên duy trì tâm chỉ ở mỗi việc làm cho cơ thể được sống còn. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của cái neo thuyền nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Giống như cái neo không nổi lên ở biển, mà chìm xuống, y như thế ấy các ngươi chớ nổi lên ở lợi lộc và tôn vinh, mà hãy chìm xuống.’”
Câu hỏi về tính chất của cái neo thuyền là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, ‘nāvālagganakassa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, nāvālagganakaṁ bahuūmijālākulavikkhobhitasalilatale mahatimahāsamudde nāvaṁ laggeti ṭhapeti, na deti disāvidisaṁ harituṁ;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena rāgadosamohūmijāle mahatimahāvitakkasampahāre cittaṁ laggetabbaṁ, na dātabbaṁ disāvidisaṁ harituṁ.
Idaṁ, mahārāja, nāvālagganakassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, nāvālagganakaṁ na plavati visīdati, hatthasatepi udake nāvaṁ laggeti ṭhānamupaneti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena lābhayasasakkāramānanavandanapūjanaapacitīsu lābhaggayasaggepi na plavitabbaṁ, sarīrayāpanamattake yeva cittaṁ ṭhapetabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, nāvālagganakassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Yathā samudde lagganakaṁ,
na plavati visīdati;
Tatheva lābhasakkāre,
mā plavatha visīdathā’”ti.
Nāvālagganakaṅgapañho chaṭṭho.
PTS vp En 299 PTS cs 11 ‘Venerable Nāgasena, those two qualities of the anchor which you say he ought to take, which are they?’
‘Just, O king, as the anchor, even in the mighty sea, in the expanse of waters agitated by the crowding of ever-varying waves, will fasten the ship, and keep it still, not letting the sea take it in one direction or another; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, keep his mind stedfast in the mighty struggle of thoughts, in the waters of the waves of lust and malice and dullness, not letting them divert it in one direction or another. This, O king, is the first quality of the anchor he ought to have.
PTS cs 12 ‘And again, O king, as the anchor floats not, but sinks down, and even in water a hundred cubits deep holds the ship fast, brings it to rest; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, when he receives support, and fame, and honour, and veneration, and reverence, and offerings, and praise, PTS vp Pali 378 be not lifted up on the summit of the support or the fame, but keep his mind fixed on the idea of merely keeping his body alive. This, O king, is the second quality of the anchor he ought to have. For it was said, O king, by Sāriputta, the Elder, the Commander of the Faith:
“As the anchor floats not, but sinks down beneath the waves,
So be abased, not lifted up, by praise or gifts.”’
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của cái neo thuyền nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như cái neo thuyền giữ chặt, duy trì con thuyền ở nơi biển cả to lớn khổng lồ, trên mặt nước bị hỗn độn, bị khuấy động bởi những đợt dồn dập của nhiều làn sóng, không cho lôi đi theo hướng chính hướng phụ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên giữ chặt tâm ở sự xung đột lớn lao vĩ đại của các suy tư, ở sự dồn dập của những làn sóng luyến ái, sân hận, si mê, không cho lôi đi theo hướng chính hướng phụ. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của cái neo thuyền nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa cái neo thuyền không nổi lên, nó chìm xuống thậm chí cả trăm cánh tay ở trong nước, nó giữ chặt con thuyền, duy trì ở vị trí. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập không nên nổi lên ở trên đỉnh của lợi lộc, ở trên đỉnh của danh vọng, ở các sự lợi lộc, danh vọng, tôn vinh, kính nể, đảnh lễ, cúng dường, trọng vọng, nên duy trì tâm chỉ ở mỗi việc làm cho cơ thể được sống còn. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của cái neo thuyền nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Giống như cái neo không nổi lên ở biển, mà chìm xuống, y như thế ấy các ngươi chớ nổi lên ở lợi lộc và tôn vinh, mà hãy chìm xuống.’”
Câu hỏi về tính chất của cái neo thuyền là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, ‘nāvālagganakassa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, nāvālagganakaṁ bahuūmijālākulavikkhobhitasalilatale mahatimahāsamudde nāvaṁ laggeti ṭhapeti, na deti disāvidisaṁ harituṁ;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena rāgadosamohūmijāle mahatimahāvitakkasampahāre cittaṁ laggetabbaṁ, na dātabbaṁ disāvidisaṁ harituṁ.
Idaṁ, mahārāja, nāvālagganakassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, nāvālagganakaṁ na plavati visīdati, hatthasatepi udake nāvaṁ laggeti ṭhānamupaneti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena lābhayasasakkāramānanavandanapūjanaapacitīsu lābhaggayasaggepi na plavitabbaṁ, sarīrayāpanamattake yeva cittaṁ ṭhapetabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, nāvālagganakassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Yathā samudde lagganakaṁ,
na plavati visīdati;
Tatheva lābhasakkāre,
mā plavatha visīdathā’”ti.
Nāvālagganakaṅgapañho chaṭṭho.