“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của người làm công nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như người làm công suy nghĩ như vầy: ‘Là người làm thuê, ta làm công việc ở chiếc thuyền này, nhờ vào chiếc thuyền này mà ta đạt được thức ăn và tiền công, ta không nên tạo ra sự xao lãng, chiếc thuyền này sẽ được chuyển vận nhờ vào ta có sự không xao lãng.’
Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên suy nghĩ như vầy: ‘Trong khi quán sát về thân tứ đại này, ta thường xuyên, liên tục không xao lãng, có niệm được thiết lập, có niệm, có sự nhận biết rõ, được định tĩnh, có tâm chuyên nhất, ta nên thực hiện sự không xao lãng (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ được hoàn toàn tự do đối với các sự sanh-già-bệnh-chết-sầu-bi-khổ-ưu-não.’ Tâu đại vương, điều này là một tính chất của người làm công nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Ngươi hãy quán sát về thân này, hãy biết toàn diện (về nó) lần này lần khác. Sau khi nhìn thấy bản thể thật ở thân, ngươi sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau.’”
Câu hỏi về tính chất của người làm công là thứ chín.
“Bhante nāgasena, ‘kammakārassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, kammakāro evaṁ cintayati ‘bhatako ahaṁ imāya nāvāya kammaṁ karomi, imāyāhaṁ nāvāya vāhasā bhattavetanaṁ labhāmi, na me pamādo karaṇīyo, appamādena me ayaṁ nāvā vāhetabbā’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena evaṁ cintayitabbaṁ ‘imaṁ kho ahaṁ cātumahābhūtikaṁ kāyaṁ sammasanto satataṁ samitaṁ appamatto upaṭṭhitassati sato sampajāno samāhito ekaggacitto jātijarābyādhimaraṇasokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccissāmīti appamādo me karaṇīyo’ti.
Idaṁ, mahārāja, kammakārassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Kāyaṁ imaṁ sammasatha,
parijānātha punappunaṁ;
Kāye sabhāvaṁ disvāna,
dukkhassantaṁ karissathā’”ti.
Kammakāraṅgapañho navamo.
PTS cs 17 ‘Venerable Nāgasena, that one quality of the sailor which you say he ought to take, which is it?’
‘Just as the sailor on board ship, O king, thinks thus: “I am a hireling, and am working for my wage on board this ship. By means of this ship is it that I get food and clothing. I must not be lazy, but zealously navigate the ship;” just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, think thus: “Gaining a thorough knowledge of this body of mine, put together of the four elements, continuously and unceasingly will I be self-possessed in mindfulness and thoughtfulness, and tranquil and peaceful will exert myself to be set free from births, old age, disease, and death, grief, lamentation, sorrow, suffering, and despair.” This, O king, is the one quality of the sailor he ought to have. For it was said, O king, by Sāriputta, the Elder, the Commander of the Faith:
“Understand what the body is, realise that again and again,
Seeing the nature of the body, put an end to grief.”’
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của người làm công nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như người làm công suy nghĩ như vầy: ‘Là người làm thuê, ta làm công việc ở chiếc thuyền này, nhờ vào chiếc thuyền này mà ta đạt được thức ăn và tiền công, ta không nên tạo ra sự xao lãng, chiếc thuyền này sẽ được chuyển vận nhờ vào ta có sự không xao lãng.’
Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên suy nghĩ như vầy: ‘Trong khi quán sát về thân tứ đại này, ta thường xuyên, liên tục không xao lãng, có niệm được thiết lập, có niệm, có sự nhận biết rõ, được định tĩnh, có tâm chuyên nhất, ta nên thực hiện sự không xao lãng (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ được hoàn toàn tự do đối với các sự sanh-già-bệnh-chết-sầu-bi-khổ-ưu-não.’ Tâu đại vương, điều này là một tính chất của người làm công nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Ngươi hãy quán sát về thân này, hãy biết toàn diện (về nó) lần này lần khác. Sau khi nhìn thấy bản thể thật ở thân, ngươi sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau.’”
Câu hỏi về tính chất của người làm công là thứ chín.
“Bhante nāgasena, ‘kammakārassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, kammakāro evaṁ cintayati ‘bhatako ahaṁ imāya nāvāya kammaṁ karomi, imāyāhaṁ nāvāya vāhasā bhattavetanaṁ labhāmi, na me pamādo karaṇīyo, appamādena me ayaṁ nāvā vāhetabbā’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena evaṁ cintayitabbaṁ ‘imaṁ kho ahaṁ cātumahābhūtikaṁ kāyaṁ sammasanto satataṁ samitaṁ appamatto upaṭṭhitassati sato sampajāno samāhito ekaggacitto jātijarābyādhimaraṇasokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccissāmīti appamādo me karaṇīyo’ti.
Idaṁ, mahārāja, kammakārassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Kāyaṁ imaṁ sammasatha,
parijānātha punappunaṁ;
Kāye sabhāvaṁ disvāna,
dukkhassantaṁ karissathā’”ti.
Kammakāraṅgapañho navamo.