BJT 1677Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn Vipassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã đi vào thành Bandhuma cùng với sáu mươi tám ngàn vị.
BJT 1678Sau khi rời khỏi thành phố, tôi đã đi đến ngôi bảo tháp ở trên đảo. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, vị thọ nhận các vật hiến cúng.
BJT 1679Có tám mươi bốn ngàn Dạ-xoa ở lân cận (đã) phục vụ tôi một cách cung kính, tợ như các tập thể chư Thiên (phục vụ) vị thần Inda.
BJT 1680Khi ấy, tôi đã đi ra khỏi cung điện và đã cầm lấy tấm vải. Tôi đã đê đầu đảnh lễ và đã dâng cúng đến bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 1681“Ôi đức Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư của chúng ta! Do nhờ năng lực của đức Phật, quả đất này đã rúng động.”
BJT 1682Và sau khi nhìn thấy điều phi thường kỳ diệu khiến lông rởn ốc ấy, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín vào đức Phật, đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 1683Sau khi làm cho tâm được tịnh tín và đã dâng cúng tấm vải đến bậc Đạo Sư, tôi đây cùng với các quan lại và đám tùy tùng đã đi đến nương nhờ (đức Phật).
BJT 1684Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1685Trước đây mười lăm kiếp, đã có mười sáu vị tên Suvāhana, là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1686Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mahāparivārađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Vipassī nāma bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Aṭṭhasaṭṭhisahassehi,
pāvisi bandhumaṁ tadā.
Nagarā abhinikkhamma,
agamaṁ dīpacetiyaṁ;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
āhutīnaṁ paṭiggahaṁ.
Cullāsītisahassāni,
yakkhā mayhaṁ upantike;
Upaṭṭhahanti sakkaccaṁ,
indaṁva tidasā gaṇā.
Bhavanā abhinikkhamma,
dussaṁ paggayhahaṁ tadā;
Sirasā abhivādesiṁ,
tañcādāsiṁ mahesino.
Aho buddhā aho dhammā,
aho no satthu sampadā;
Buddhassa ānubhāvena,
vasudhāyaṁ pakampatha.
Tañca acchariyaṁ disvā,
abbhutaṁ lomahaṁsanaṁ;
Buddhe cittaṁ pasādemi,
dvipadindamhi tādine.
Sohaṁ cittaṁ pasādetvā,
dussaṁ datvāna satthuno;
Saraṇañca upāgacchiṁ,
sāmacco saparijjano.
Ekanavutito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Ito pannarase kappe,
soḷasāsuṁ suvāhanā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā mahāparivārako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Mahāparivārakattherassāpadānaṁ paṭhamaṁ.
Walt 1677 The Blessed One named Vipassi,
the World’s Best One, the Bull of Men,
entered Banduma City then
with sixty-eight thousand arahants. Verse 1
Walt 1678 Having come out from the city
he went to the shrine of the lamps.
I saw the Buddha, Stainless One,
Sacrificial Recipient. Verse 2
Walt 1679 Eighty thousand minor spirits
who then attended reverently
upon Indra and the Thirty-three
were also there in my presence. Verse 3
Walt 1680 When he rose from meditation,
I picked up a piece of cloth there.
I worshipped him with my head bowed,
then I gave it to the Great Sage: Verse 4
Walt 1681 “O! the Buddha! O! the Teaching!
O! our Teacher’s great achievement!
Through the power of the Buddha
he made the earth itself to quake.” Verse 5
Walt 1682 And having seen that miracle,
marvel making hair stand on end,
I pleased my heart in the Buddha,
the Biped-Lord, the Neutral One. Verse 6
Walt 1683 Then I, having pleased my heart in
the Biped-Lord, the Neutral One,
giving that cloth to the Teacher,
went up to him to take refuge. Verse 7
Walt 1684 In the ninety-one aeons since
I did that good karma back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 8
Walt 1685 In the fifteenth aeon ago
there were sixteen named Vāhana,
wheel-turning kings with great power,
possessors of the seven gems. Verse 9
Walt 1686 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 10
Thus indeed Venerable Mahāparivāra Thera spoke these verses.
The legend of Mahāparivāra Thera is finished.
BJT 1677Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn Vipassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã đi vào thành Bandhuma cùng với sáu mươi tám ngàn vị.
BJT 1678Sau khi rời khỏi thành phố, tôi đã đi đến ngôi bảo tháp ở trên đảo. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, vị thọ nhận các vật hiến cúng.
BJT 1679Có tám mươi bốn ngàn Dạ-xoa ở lân cận (đã) phục vụ tôi một cách cung kính, tợ như các tập thể chư Thiên (phục vụ) vị thần Inda.
BJT 1680Khi ấy, tôi đã đi ra khỏi cung điện và đã cầm lấy tấm vải. Tôi đã đê đầu đảnh lễ và đã dâng cúng đến bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 1681“Ôi đức Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư của chúng ta! Do nhờ năng lực của đức Phật, quả đất này đã rúng động.”
BJT 1682Và sau khi nhìn thấy điều phi thường kỳ diệu khiến lông rởn ốc ấy, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín vào đức Phật, đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 1683Sau khi làm cho tâm được tịnh tín và đã dâng cúng tấm vải đến bậc Đạo Sư, tôi đây cùng với các quan lại và đám tùy tùng đã đi đến nương nhờ (đức Phật).
BJT 1684Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1685Trước đây mười lăm kiếp, đã có mười sáu vị tên Suvāhana, là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1686Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mahāparivārađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Vipassī nāma bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Aṭṭhasaṭṭhisahassehi,
pāvisi bandhumaṁ tadā.
Nagarā abhinikkhamma,
agamaṁ dīpacetiyaṁ;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
āhutīnaṁ paṭiggahaṁ.
Cullāsītisahassāni,
yakkhā mayhaṁ upantike;
Upaṭṭhahanti sakkaccaṁ,
indaṁva tidasā gaṇā.
Bhavanā abhinikkhamma,
dussaṁ paggayhahaṁ tadā;
Sirasā abhivādesiṁ,
tañcādāsiṁ mahesino.
Aho buddhā aho dhammā,
aho no satthu sampadā;
Buddhassa ānubhāvena,
vasudhāyaṁ pakampatha.
Tañca acchariyaṁ disvā,
abbhutaṁ lomahaṁsanaṁ;
Buddhe cittaṁ pasādemi,
dvipadindamhi tādine.
Sohaṁ cittaṁ pasādetvā,
dussaṁ datvāna satthuno;
Saraṇañca upāgacchiṁ,
sāmacco saparijjano.
Ekanavutito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Ito pannarase kappe,
soḷasāsuṁ suvāhanā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā mahāparivārako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Mahāparivārakattherassāpadānaṁ paṭhamaṁ.