BJT 1725Tôi cư ngụ ở cội cây Rājāyatana cùng với các quan lại và đám tùy tùng. Khi ấy đức Thế Tôn Sikhī, đấng quyến thuộc của thế gian, Viên Tịch Niết Bàn.
BJT 1726Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đi đến nơi hỏa táng. Tại nơi ấy, sau khi trình tấu nhạc cụ, tôi đã đặt xuống vật thơm và tràng hoa.
BJT 1727Sau khi cúng dường ở giàn hỏa thiêu, tôi đã đảnh lễ nơi hỏa táng. Tôi đã đi về chỗ trú ngụ của mình, với tâm tịnh tín, với ý vui mừng.
BJT 17281729. Bước vào chỗ ngụ, tôi đã tưởng nhớ đến sự cúng dường lễ hỏa táng. Do việc làm ấy ở nơi đấng Chúa Tể của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, tôi đã thọ hưởng sự thành đạt ở giữa chư Thiên và ở giữa loài người. Sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 1730(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường lễ hỏa táng.
BJT 1731Trước đây hai mươi chín kiếp, mười sáu vị vua (có cùng) tên Uggata đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1732Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Citakapūjakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Vasāmi rājāyatane,
sāmacco saparijjano;
Parinibbute bhagavati,
sikhino lokabandhuno.
Pasannacitto sumano,
citakaṁ agamāsahaṁ;
Tūriyaṁ tattha vādetvā,
gandhamālaṁ samokiriṁ.
Citamhi pūjaṁ katvāna,
vanditvā citakaṁ ahaṁ;
Pasannacitto sumano,
sakaṁ bhavanupāgamiṁ.
Bhavane upaviṭṭhohaṁ,
citapūjaṁ anussariṁ;
Tena kammena dvipadinda,
lokajeṭṭha narāsabha.
Anubhotvāna sampattiṁ,
devesu mānusesu ca;
Pattomhi acalaṁ ṭhānaṁ,
hitvā jayaparājayaṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
citapūjāyidaṁ phalaṁ.
Ekūnatiṁsakappamhi,
ito soḷasa rājāno;
Uggatā nāma nāmena,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā citakapūjako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Citakapūjakattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.
Walt 1725 When Sikhi the Blessed One, the
Kinsman of the World, passed away,
I then lived in the royal sphere,
with the ministers and servants. Verse 1
Walt 1726 Happy, and with a happy heart,
I went to the shrine built for him.
Having turiya-drums played there
I laid a garland of flowers. Verse 2
Walt 1727 Having done pūjā at that shrine
and worshipping the shrine itself,
happy, and with a happy heart
I then returned to my own house. Verse 3
Walt 1728 Having entered my residence,
I called to mind that shrine-pūjā.
Through that deed for the Biped-Lord,
the World’s Best One, the Bull of Men, Verse 4
Walt 1729 having enjoyed great happiness
among humans and also gods,
I’ve attained the unshaking state
beyond all conquest and defeat. Verse 5
Walt 1730 In the thirty-one aeons since
I offered that flower to him,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of shrine-pūjā. Verse 6
Walt 1731 In the twenty-ninth aeon thence
there were sixteen different kings then,
all known by the name Uggata,
wheel-turning monarchs with great strength. Verse 7
Walt 1732 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Citakapūjaka Thera spoke these verses.
The legend of Citakapūjaka Thera is finished.
BJT 1725Tôi cư ngụ ở cội cây Rājāyatana cùng với các quan lại và đám tùy tùng. Khi ấy đức Thế Tôn Sikhī, đấng quyến thuộc của thế gian, Viên Tịch Niết Bàn.
BJT 1726Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đi đến nơi hỏa táng. Tại nơi ấy, sau khi trình tấu nhạc cụ, tôi đã đặt xuống vật thơm và tràng hoa.
BJT 1727Sau khi cúng dường ở giàn hỏa thiêu, tôi đã đảnh lễ nơi hỏa táng. Tôi đã đi về chỗ trú ngụ của mình, với tâm tịnh tín, với ý vui mừng.
BJT 17281729. Bước vào chỗ ngụ, tôi đã tưởng nhớ đến sự cúng dường lễ hỏa táng. Do việc làm ấy ở nơi đấng Chúa Tể của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, tôi đã thọ hưởng sự thành đạt ở giữa chư Thiên và ở giữa loài người. Sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 1730(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường lễ hỏa táng.
BJT 1731Trước đây hai mươi chín kiếp, mười sáu vị vua (có cùng) tên Uggata đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1732Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Citakapūjakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Vasāmi rājāyatane,
sāmacco saparijjano;
Parinibbute bhagavati,
sikhino lokabandhuno.
Pasannacitto sumano,
citakaṁ agamāsahaṁ;
Tūriyaṁ tattha vādetvā,
gandhamālaṁ samokiriṁ.
Citamhi pūjaṁ katvāna,
vanditvā citakaṁ ahaṁ;
Pasannacitto sumano,
sakaṁ bhavanupāgamiṁ.
Bhavane upaviṭṭhohaṁ,
citapūjaṁ anussariṁ;
Tena kammena dvipadinda,
lokajeṭṭha narāsabha.
Anubhotvāna sampattiṁ,
devesu mānusesu ca;
Pattomhi acalaṁ ṭhānaṁ,
hitvā jayaparājayaṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
citapūjāyidaṁ phalaṁ.
Ekūnatiṁsakappamhi,
ito soḷasa rājāno;
Uggatā nāma nāmena,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā citakapūjako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Citakapūjakattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.