BJT 1733Lúc bấy giờ, đấng Cao Cả của thế gian Vipassī đã buông bỏ sự duy trì tuổi thọ. Quả địa cầu là trái đất có nước bao quanh đã rúng động.
BJT 1734Vào lúc chấm dứt tuổi thọ của đức Phật, chỗ ngụ được lợp mái, được trải rộng, có tràng hoa khéo được trang hoàng của tôi cũng đã rúng động.
BJT 1735Khi chỗ ngụ bị rúng động, nỗi sợ hãi đã sanh khởi ở tôi. Việc đã xảy ra là do nguyên nhân gì? Nguồn ánh sáng bao la đã xuất hiện là do nguyên nhân gì?
BJT 1736(Thiên Vương) Vessavaṇa đã đi đến nơi ấy và đã trấn an đám đông dân chúng rằng: “Không có điều lo ngại cho sanh mạng, các người hãy có sự chăm chú, bình tĩnh.”
BJT 1737“Ôi đức Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư của chúng ta! Trong khi điều ấy sanh khởi, quả địa cầu đã tự rúng động.”
BJT 1738Sau khi đã tán dương năng lực của đức Phật, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp. Trong những kiếp còn lại, việc tốt lành đã được tôi thực hiện.
BJT 1739Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về đức Phật.
BJT 1740Trước đây mười bốn kiếp, tôi đã là vị vua có sự huy hoàng tên Samita, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1741Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Buddhasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Yadā vipassī lokaggo,
āyusaṅkhāramossaji;
Pathavī sampakampittha,
medanī jalamekhalā.
Otataṁ vitthataṁ mayhaṁ,
suvicittavaṭaṁsakaṁ;
Bhavanampi pakampittha,
buddhassa āyusaṅkhaye.
Tāso mayhaṁ samuppanno,
bhavane sampakampite;
Uppādo nu kimatthāya,
āloko vipulo ahu.
Vessavaṇo idhāgamma,
nibbāpesi mahājanaṁ;
Pāṇabhūte bhayaṁ natthi,
ekaggā hotha saṁvutā.
Aho buddhā aho dhammā,
aho no satthu sampadā;
Yasmiṁ uppajjamānamhi,
pathavī sampakampati.
Buddhānubhāvaṁ kittetvā,
kappaṁ saggamhi modahaṁ;
Avasesesu kappesu,
kusalaṁ caritaṁ mayā.
Ekanavutito kappe,
yaṁ saññamalabhiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhasaññāyidaṁ phalaṁ.
Ito cuddasakappamhi,
rājā āsiṁ patāpavā;
Samito nāma nāmena,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā buddhasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Buddhasaññakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 1733 When Vipassi, Top of the World,
abandoned life’s constituents,
the land, engirdled in water,
the very earth, did quake back then. Verse 1
Walt 1734 When the Buddha’s life was finished
my dwelling was also shaken.
And my ornamental hair-wreath
was stretched and pulled apart by that. Verse 2
Walt 1735 When my residence was shaken,
I was terrified to feel it.
And for whatever reason then
there was a vast effulgence there. Verse 3
Walt 1736 Vessavaṇa having come here,
dispelled the fears of the people:
“There’s nothing for beings to fear;
be calm, exercise self-control. Verse 4
Walt 1737 O! the Buddha! O! the Teaching!
O! our Teacher’s great achievement!
Also when he was being born
the earth itself did quake back then.” Verse 5
Walt 1738 After he praised Buddha’s power,
I thrilled an aeon in heaven.
During the remaining aeons
I did lots of wholesome karma. Verse 6
Walt 1739 In the ninety-one aeons since
I obtained that perception then,
I’ve come to know no bad rebirth:
the fruit of perceiving Buddha. Verse 7
Walt 1740 In the fourteenth aeon ago,
I was a majestic monarch,
known by the name of Samita,
a wheel-turner with great power. Verse 8
Walt 1741 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Buddhasaññaka Thera spoke these verses.
The legend of Buddhasaññaka Thera is finished.
BJT 1733Lúc bấy giờ, đấng Cao Cả của thế gian Vipassī đã buông bỏ sự duy trì tuổi thọ. Quả địa cầu là trái đất có nước bao quanh đã rúng động.
BJT 1734Vào lúc chấm dứt tuổi thọ của đức Phật, chỗ ngụ được lợp mái, được trải rộng, có tràng hoa khéo được trang hoàng của tôi cũng đã rúng động.
BJT 1735Khi chỗ ngụ bị rúng động, nỗi sợ hãi đã sanh khởi ở tôi. Việc đã xảy ra là do nguyên nhân gì? Nguồn ánh sáng bao la đã xuất hiện là do nguyên nhân gì?
BJT 1736(Thiên Vương) Vessavaṇa đã đi đến nơi ấy và đã trấn an đám đông dân chúng rằng: “Không có điều lo ngại cho sanh mạng, các người hãy có sự chăm chú, bình tĩnh.”
BJT 1737“Ôi đức Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư của chúng ta! Trong khi điều ấy sanh khởi, quả địa cầu đã tự rúng động.”
BJT 1738Sau khi đã tán dương năng lực của đức Phật, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp. Trong những kiếp còn lại, việc tốt lành đã được tôi thực hiện.
BJT 1739Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về đức Phật.
BJT 1740Trước đây mười bốn kiếp, tôi đã là vị vua có sự huy hoàng tên Samita, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1741Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Buddhasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Yadā vipassī lokaggo,
āyusaṅkhāramossaji;
Pathavī sampakampittha,
medanī jalamekhalā.
Otataṁ vitthataṁ mayhaṁ,
suvicittavaṭaṁsakaṁ;
Bhavanampi pakampittha,
buddhassa āyusaṅkhaye.
Tāso mayhaṁ samuppanno,
bhavane sampakampite;
Uppādo nu kimatthāya,
āloko vipulo ahu.
Vessavaṇo idhāgamma,
nibbāpesi mahājanaṁ;
Pāṇabhūte bhayaṁ natthi,
ekaggā hotha saṁvutā.
Aho buddhā aho dhammā,
aho no satthu sampadā;
Yasmiṁ uppajjamānamhi,
pathavī sampakampati.
Buddhānubhāvaṁ kittetvā,
kappaṁ saggamhi modahaṁ;
Avasesesu kappesu,
kusalaṁ caritaṁ mayā.
Ekanavutito kappe,
yaṁ saññamalabhiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhasaññāyidaṁ phalaṁ.
Ito cuddasakappamhi,
rājā āsiṁ patāpavā;
Samito nāma nāmena,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā buddhasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Buddhasaññakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.