BJT 1915Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc có lậu hoặc đã được đoạn tận, vị đã đạt năng lực, đang ngồi ở nơi khoảnh rừng rộng, được vây quanh bởi Hội Chúng tỳ khưu.
BJT 1916“Một trăm ngàn vị có ba minh, có sáu thắng trí, có đại thần lực quây quanh bậc Toàn Giác, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
BJT 1917Ở (thế gian) gồm cả chư Thiên, người có sự tương đương về trí tuệ không tìm thấy, ai là người nhìn thấy bậc Toàn Giác có trí tuệ vô biên mà không tịnh tín?
BJT 1918Và người ta không thể làm tổn hại Pháp Thân đang chiếu sáng (giống như) toàn bộ hầm mỏ châu ngọc, ai là người nhìn thấy (Ngài) mà không tịnh tín?”
BJT 1919Với ba lời kệ này, vị Nārada Saragacchiya đã ngợi ca về đấng Toàn Giác bậc không bị đánh bại Padumuttara.
BJT 1920Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm và do sự ngợi ca đức Phật, tôi đã không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 1921Trước đây ba ngàn kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Sumitta, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1922Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Atthasandassakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Atthasandassaka là phần thứ bảy.
“Visālamāḷe āsīno,
addasaṁ lokanāyakaṁ;
Khīṇāsavaṁ balappattaṁ,
bhikkhusaṅghapurakkhataṁ.
Satasahassā tevijjā,
chaḷabhiññā mahiddhikā;
Parivārenti sambuddhaṁ,
ko disvā nappasīdati.
Ñāṇe upanidhā yassa,
na vijjati sadevake;
Anantañāṇaṁ sambuddhaṁ,
ko disvā nappasīdati.
Dhammakāyañca dīpentaṁ,
kevalaṁ ratanākaraṁ;
Vikappetuṁ na sakkonti,
ko disvā nappasīdati.
Imāhi tīhi gāthāhi,
nāradovhayavacchalo;
Padumuttaraṁ thavitvāna,
sambuddhaṁ aparājitaṁ.
Tena cittappasādena,
buddhasanthavanena ca;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjahaṁ.
Ito tiṁsakappasate,
sumitto nāma khattiyo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā atthasandassako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Atthasandassakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 1915 Sitting in a large, peaked building,
I saw the Leader of the World,
Undefiled, Possessing Power,
Honored by the Monks’ Assembly. Verse 1
Walt 1916 “Who is not pleased after seeing
a lakh with the three-fold knowledge,
special knowledges, superpowers,
all surrounding the Sambuddha? Verse 2
Walt 1917 Who is not pleased after seeing
Sambuddha with boundless knowledge,
to whom none comes close in knowledge
in this world with its gods and men? Verse 3
Walt 1918 Who is not pleased after seeing
him, the Whole One, the Mine of Gems,
explaining the Dhamma-body
which no one can ever injure?” Verse 4
Walt 1919 Nārada Saragacchiya
by saying these three verses then
praised Buddha Padumuttara,
the Unconquered, the Sambuddha. Verse 5
Walt 1920 Due to that pleasure in my heart
and my praising of the Buddha,
for one hundred thousand aeons
I’ve come to know no bad rebirth. Verse 6
Walt 1921 In the thirtieth aeon hence
the Kṣatriyan named Sukhitta
was a wheel-turner with great strength,
possessor of the seven gems. Verse 7
Walt 1922 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Atthasandassaka Thera spoke these verses.
The legend of Atthasandassaka Thera is finished.
BJT 1915Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc có lậu hoặc đã được đoạn tận, vị đã đạt năng lực, đang ngồi ở nơi khoảnh rừng rộng, được vây quanh bởi Hội Chúng tỳ khưu.
BJT 1916“Một trăm ngàn vị có ba minh, có sáu thắng trí, có đại thần lực quây quanh bậc Toàn Giác, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
BJT 1917Ở (thế gian) gồm cả chư Thiên, người có sự tương đương về trí tuệ không tìm thấy, ai là người nhìn thấy bậc Toàn Giác có trí tuệ vô biên mà không tịnh tín?
BJT 1918Và người ta không thể làm tổn hại Pháp Thân đang chiếu sáng (giống như) toàn bộ hầm mỏ châu ngọc, ai là người nhìn thấy (Ngài) mà không tịnh tín?”
BJT 1919Với ba lời kệ này, vị Nārada Saragacchiya đã ngợi ca về đấng Toàn Giác bậc không bị đánh bại Padumuttara.
BJT 1920Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm và do sự ngợi ca đức Phật, tôi đã không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 1921Trước đây ba ngàn kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Sumitta, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1922Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Atthasandassakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Atthasandassaka là phần thứ bảy.
“Visālamāḷe āsīno,
addasaṁ lokanāyakaṁ;
Khīṇāsavaṁ balappattaṁ,
bhikkhusaṅghapurakkhataṁ.
Satasahassā tevijjā,
chaḷabhiññā mahiddhikā;
Parivārenti sambuddhaṁ,
ko disvā nappasīdati.
Ñāṇe upanidhā yassa,
na vijjati sadevake;
Anantañāṇaṁ sambuddhaṁ,
ko disvā nappasīdati.
Dhammakāyañca dīpentaṁ,
kevalaṁ ratanākaraṁ;
Vikappetuṁ na sakkonti,
ko disvā nappasīdati.
Imāhi tīhi gāthāhi,
nāradovhayavacchalo;
Padumuttaraṁ thavitvāna,
sambuddhaṁ aparājitaṁ.
Tena cittappasādena,
buddhasanthavanena ca;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjahaṁ.
Ito tiṁsakappasate,
sumitto nāma khattiyo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā atthasandassako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Atthasandassakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.