BJT 1934Lúc bấy giờ, tôi đã là kẻ đồ tể, là kẻ giết hại các sanh mạng khác. Tôi nằm ngủ ở sườn núi không xa bậc Đạo Sư Sikhī.
BJT 1935Tôi nhìn thấy đức Phật, bậc Lãnh Đạo cao cả của thế gian vào ban đêm và ban ngày. Nhưng vật xứng đáng để dâng cúng đến đấng Chúa Tể của loài người thì tôi không có.
BJT 1936Tôi đã cầm lấy trái cây piyāla và đã đi đến gần đức Phật. Đức Thế Tôn, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã thọ nhận.
BJT 1937Kế từ đó về sau tôi đã theo phục vụ đấng Hướng Đạo. Với sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 1938(Kể từ khi) tôi đã cúng dường trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 1939Trước đây mười lăm kiếp, ba vị (tên) Piyālī đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1940Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Piyālaphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Piyālaphaladāyaka là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Sobhita, vị Sudassana, (vị dâng cúng) trầm hương, (vị dâng cúng) mái che bằng bông hoa, vị suy tưởng về nơi thanh vắng, vị có bông hoa campaka, cùng với vị chỉ dạy về mục đích, vị có một lần tịnh tín, vị dâng cúng bông hoa sālā, và vị dâng cúng trái cây là thứ mười; (tổng cộng) có bảy mươi hai câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Sobhita là phẩm thứ mười bốn.
“Pārāvato tadā āsiṁ,
paraṁ anuparodhako;
Pabbhāre seyyaṁ kappemi,
avidūre sikhisatthuno.
Sāyaṁ pātañca passāmi,
buddhaṁ lokagganāyakaṁ;
Deyyadhammo ca me natthi,
dvipadindassa tādino.
Piyālaphalamādāya,
agamaṁ buddhasantikaṁ;
Paṭiggahesi bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho.
Tato paraṁ upādāya,
paricāriṁ vināyakaṁ;
Tena cittappasādena,
tattha kālaṅkato ahaṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
yaṁ phalaṁ adadiṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Ito pannarase kappe,
tayo āsuṁ piyālino;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā piyālaphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Piyālaphaladāyakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Sobhitavaggo cuddasamo.
Tassuddānaṁ
Sobhitasudassano ca,
candano pupphachadano;
Raho campakapupphī ca,
atthasandassakena ca.
Ekapasādī sāladado,
dasamo phaladāyako;
Gāthāyo sattati dve ca,
gaṇitāyo vibhāvibhi.
Walt 1934 I was one who harmed others then,
a harmer of other beings.
I rested on a mountain slope
near the Teacher known as Sikhi. Verse 1
Walt 1935 In the evening and the morning
I saw the Buddha, the World-Chief.
But I had nothing to give to
the Biped-Lord, the Neutral One. Verse 2
Walt 1936 Taking a piyāla fruit, I
went into the Buddha’s presence.
The Blessed One accepted it,
the World’s Best One, the Bull of Men. Verse 3
Walt 1937 Thenceforth for the sake of others
I waited on Sikhi, the Guide,
and with that pleasure in my heart
I passed away right on the spot. Verse 4
Walt 1938 In the thirty-one aeons since
I gave that fruit to the Buddha,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of giving fruit. Verse 5
Walt 1939 In the fifteenth aeon ago
there were three men named Mālabhi,
wheel-turning kings with great power,
possessors of the seven gems. Verse 6
Walt 1940 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 7
Thus indeed Venerable Piyālaphaladāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Piyālaphaladāyaka Thera is finished.
The Summary:
Sobhī and Sudassana too,
Candana, Pupphachadana,
Raho and Campakapupphī
and with Atthasandassaka,
Ekadussī, Sāladada
and Phaladāyaka, the tenth.
By counting there are clearly here
seventy verses plus two more.
The Sobhita Chapter, the Fourteenth.
BJT 1934Lúc bấy giờ, tôi đã là kẻ đồ tể, là kẻ giết hại các sanh mạng khác. Tôi nằm ngủ ở sườn núi không xa bậc Đạo Sư Sikhī.
BJT 1935Tôi nhìn thấy đức Phật, bậc Lãnh Đạo cao cả của thế gian vào ban đêm và ban ngày. Nhưng vật xứng đáng để dâng cúng đến đấng Chúa Tể của loài người thì tôi không có.
BJT 1936Tôi đã cầm lấy trái cây piyāla và đã đi đến gần đức Phật. Đức Thế Tôn, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã thọ nhận.
BJT 1937Kế từ đó về sau tôi đã theo phục vụ đấng Hướng Đạo. Với sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 1938(Kể từ khi) tôi đã cúng dường trái cây trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 1939Trước đây mười lăm kiếp, ba vị (tên) Piyālī đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1940Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Piyālaphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Piyālaphaladāyaka là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Sobhita, vị Sudassana, (vị dâng cúng) trầm hương, (vị dâng cúng) mái che bằng bông hoa, vị suy tưởng về nơi thanh vắng, vị có bông hoa campaka, cùng với vị chỉ dạy về mục đích, vị có một lần tịnh tín, vị dâng cúng bông hoa sālā, và vị dâng cúng trái cây là thứ mười; (tổng cộng) có bảy mươi hai câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Sobhita là phẩm thứ mười bốn.
“Pārāvato tadā āsiṁ,
paraṁ anuparodhako;
Pabbhāre seyyaṁ kappemi,
avidūre sikhisatthuno.
Sāyaṁ pātañca passāmi,
buddhaṁ lokagganāyakaṁ;
Deyyadhammo ca me natthi,
dvipadindassa tādino.
Piyālaphalamādāya,
agamaṁ buddhasantikaṁ;
Paṭiggahesi bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho.
Tato paraṁ upādāya,
paricāriṁ vināyakaṁ;
Tena cittappasādena,
tattha kālaṅkato ahaṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
yaṁ phalaṁ adadiṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Ito pannarase kappe,
tayo āsuṁ piyālino;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā piyālaphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Piyālaphaladāyakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Sobhitavaggo cuddasamo.
Tassuddānaṁ
Sobhitasudassano ca,
candano pupphachadano;
Raho campakapupphī ca,
atthasandassakena ca.
Ekapasādī sāladado,
dasamo phaladāyako;
Gāthāyo sattati dve ca,
gaṇitāyo vibhāvibhi.