BJT 2665Nhằm đạt đến mục đích tối thượng, chúng tôi tám mươi bốn ngàn người đã xuất gia, không còn sở hữu gì. Trong số các vị ấy, tôi đã là người đứng đầu.
BJT 2666Và các vị này được thanh tịnh, không bị chộn rộn, dầu còn tham ái và còn sự tái sanh. Được tịnh tín, các vị này đã tự tay phục vụ (chư Thánh nhân) một cách tôn kính.
BJT 2667Có các lậu hoặc đã được đoạn tận, có sân hận đã được tống khứ, có phận sự đã được hoàn thành, không còn lậu hoặc, các đấng Tự Chủ không bị đánh bại đã lan tỏa với tâm từ ái.
BJT 2668Sau khi phục vụ chư vị đã tự mình giác ngộ, tôi có được niệm, nhưng tôi đã gần kề sự chết. Và chúng tôi đã đi đến bản thể chư Thiên.
BJT 2669(Kể từ khi) tôi đã gìn giữ giới hạnh trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tự chế ngự.
BJT 2670Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pubbaṅgamiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pubbaṅgamiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Lá cây, (các) trái cây, sự đi ra tiếp đón, vị có một bông hoa, và (vị có) bông hoa maghava, người phục vụ, sự nghiệp (của chư Phật), sự xuất gia, vị phục vụ chư Phật, vị đứng đầu; (tổng cộng) có bốn mươi tám câu kệ đã được thuật lại.
Phẩm Paṇṇadāyaka là phần thứ hai mươi chín.
“Cullāsītisahassāni,
pabbajimha akiñcanā;
Tesaṁ pubbaṅgamo āsiṁ,
uttamatthassa pattiyā.
Sarāgā sabhavā cete,
vippasannamanāvilā;
Upaṭṭhahiṁsu sakkaccaṁ,
pasannā sehi pāṇibhi.
Khīṇāsavā vantadosā,
katakiccā anāsavā;
Phariṁsu mettacittena,
sayambhū aparājitā.
Tesaṁ upaṭṭhahitvāna,
sambuddhānaṁ patissato;
Maraṇañca anuppatto,
devattañca agamhase.
Catunnavutito kappe,
yaṁ sīlamanupālayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
saññamassa idaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pubbaṅgamiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pubbaṅgamiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Paṇṇadāyakavaggo ekūnatiṁsatimo.
Tassuddānaṁ
Paṇṇaṁ phalaṁ paccuggamaṁ,
ekapupphi ca maghavā;
Upaṭṭhākāpadānañca,
pabbajjā buddhupaṭṭhāko;
Pubbaṅgamo ca gāthāyo,
aṭṭhatālīsa kittitā.
Walt 2665 Eighty-four thousand great people
renounced the world, nothing at all.
I gave precedence to them then,
wishing for the ultimate goal. Verse 1
Walt 2666 In this world of lust and being,
they carefully attended on
the Undisturbed One, Lucid One,
feeling well-pleased by their own hands. Verse 2
Walt 2667 Their Faults Destroyed, Defects Expelled,
they Did their Duty, Free of Fault,
Pervading all with Loving Hearts,
Self-Become Ones, Unconquered Ones; Verse 3
Walt 2668 remembering those Sambuddhas,
having given service to them,
when the time of my death arrived,
I went to divine existence. Verse 3-4
Walt 2669 In the ninety-four aeons since
I protected morals back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of being restrained. Verse 5
Walt 2670 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 6
Thus indeed Venerable Pubbaṅgamaniya Thera spoke these verses.
The legend of Pubbaṅgamaniya Thera is finished.
The Summary:
Paṇṇa, Phala, Uggamiya,
Ekapupphi, and Maghava,
Upaṭṭhāka’s apadāna,
Pabbajja and Upaṭṭhaha,
and Pubbaṅgama; the verses
are counted as forty and eight.
The Paṇṇadāyaka Chapter, the Twenty-Ninth
BJT 2665Nhằm đạt đến mục đích tối thượng, chúng tôi tám mươi bốn ngàn người đã xuất gia, không còn sở hữu gì. Trong số các vị ấy, tôi đã là người đứng đầu.
BJT 2666Và các vị này được thanh tịnh, không bị chộn rộn, dầu còn tham ái và còn sự tái sanh. Được tịnh tín, các vị này đã tự tay phục vụ (chư Thánh nhân) một cách tôn kính.
BJT 2667Có các lậu hoặc đã được đoạn tận, có sân hận đã được tống khứ, có phận sự đã được hoàn thành, không còn lậu hoặc, các đấng Tự Chủ không bị đánh bại đã lan tỏa với tâm từ ái.
BJT 2668Sau khi phục vụ chư vị đã tự mình giác ngộ, tôi có được niệm, nhưng tôi đã gần kề sự chết. Và chúng tôi đã đi đến bản thể chư Thiên.
BJT 2669(Kể từ khi) tôi đã gìn giữ giới hạnh trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tự chế ngự.
BJT 2670Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pubbaṅgamiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pubbaṅgamiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Lá cây, (các) trái cây, sự đi ra tiếp đón, vị có một bông hoa, và (vị có) bông hoa maghava, người phục vụ, sự nghiệp (của chư Phật), sự xuất gia, vị phục vụ chư Phật, vị đứng đầu; (tổng cộng) có bốn mươi tám câu kệ đã được thuật lại.
Phẩm Paṇṇadāyaka là phần thứ hai mươi chín.
“Cullāsītisahassāni,
pabbajimha akiñcanā;
Tesaṁ pubbaṅgamo āsiṁ,
uttamatthassa pattiyā.
Sarāgā sabhavā cete,
vippasannamanāvilā;
Upaṭṭhahiṁsu sakkaccaṁ,
pasannā sehi pāṇibhi.
Khīṇāsavā vantadosā,
katakiccā anāsavā;
Phariṁsu mettacittena,
sayambhū aparājitā.
Tesaṁ upaṭṭhahitvāna,
sambuddhānaṁ patissato;
Maraṇañca anuppatto,
devattañca agamhase.
Catunnavutito kappe,
yaṁ sīlamanupālayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
saññamassa idaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pubbaṅgamiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pubbaṅgamiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Paṇṇadāyakavaggo ekūnatiṁsatimo.
Tassuddānaṁ
Paṇṇaṁ phalaṁ paccuggamaṁ,
ekapupphi ca maghavā;
Upaṭṭhākāpadānañca,
pabbajjā buddhupaṭṭhāko;
Pubbaṅgamo ca gāthāyo,
aṭṭhatālīsa kittitā.