BJT 2687Khi mặt trời còn chưa mọc lên, đã có tiếng gầm rú dữ dội (báo hiệu) sự xuất hiện của đức Phật tối thượng bậc Đại Ẩn Sĩ ở trên thế gian.
BJT 2688Tại nơi ấy, tôi đã nghe được tiếng động nhưng tôi không nhìn thấy đấng Chiến Thắng ấy. Và khi sự chết đã gần kề, tôi đã nhớ lại sự suy tưởng về đức Phật.
BJT 2689Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về đức Phật.
BJT 2690Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Saddasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Saddasaññaka là phần thứ tư.
“Anuggatamhi ādicce,
panādo vipulo ahu;
Buddhaseṭṭhassa lokamhi,
pātubhāvo mahesino.
Ghosamassosahaṁ tattha,
na ca passāmi taṁ jinaṁ;
Maraṇañca anuppatto,
buddhasaññamanussariṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ saññamalabhiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā saddasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Saddasaññakattherassāpadānaṁ catutthaṁ.
Walt 2687
When the sun has not quite risen,
there is still abundant brightnessthe arising within the world
of the Best Buddha, the Great Sage. Verse 1
Walt 2688 I heard the sound of him there then,
but I did not see that Victor.
When the time of my death arrived,
I called to mind the Buddha’s sound. Verse 2
Walt 2689 In the ninety-four aeons since
I obtained that perception then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 3
Walt 2690 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 4
Thus indeed Venerable Saddasaññaka Thera spoke these verses.
The legend of Saddasaññaka Thera is finished.
BJT 2687Khi mặt trời còn chưa mọc lên, đã có tiếng gầm rú dữ dội (báo hiệu) sự xuất hiện của đức Phật tối thượng bậc Đại Ẩn Sĩ ở trên thế gian.
BJT 2688Tại nơi ấy, tôi đã nghe được tiếng động nhưng tôi không nhìn thấy đấng Chiến Thắng ấy. Và khi sự chết đã gần kề, tôi đã nhớ lại sự suy tưởng về đức Phật.
BJT 2689Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về đức Phật.
BJT 2690Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Saddasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Saddasaññaka là phần thứ tư.
“Anuggatamhi ādicce,
panādo vipulo ahu;
Buddhaseṭṭhassa lokamhi,
pātubhāvo mahesino.
Ghosamassosahaṁ tattha,
na ca passāmi taṁ jinaṁ;
Maraṇañca anuppatto,
buddhasaññamanussariṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ saññamalabhiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā saddasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Saddasaññakattherassāpadānaṁ catutthaṁ.