BJT 3093Đấng Đạo Sư tên Tissa đã là bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu. Sau khi nhìn thấy sự đoạn tận mầm mống tái sanh (sự Viên Tịch Niết Bàn) của Ngài, tôi đã treo lên lá cờ.
BJT 3094Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 3095Tôi đã cai quản Thiên Quốc ba trăm lần và đã là đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.
BJT 3096Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Tôi thọ hưởng nghiệp của mình, (là nghiệp) đã khéo được thực hiện bởi bản thân trong thời quá khứ.
BJT 3097Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng lá cờ.
BJT 3098Và giờ đây, trong lúc mong muốn tôi có thể che đậy (mặt đất) có rừng rậm luôn cả núi non bằng loại vải sợi lanh; vào khi ấy quả báu của tôi đã được thể hiện.
BJT 3099Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Dhajadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Tisso nāma ahu satthā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Tayopadhikkhaye disvā,
dhajaṁ āropitaṁ mayā.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Satānaṁ tīṇikkhattuñca,
devarajjaṁ akārayiṁ;
Satānaṁ pañcakkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ.
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
gaṇanāto asaṅkhiyaṁ;
Anubhomi sakaṁ kammaṁ,
pubbe sukatamattano.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
dhajadānassidaṁ phalaṁ.
Icchamāno cahaṁ ajja,
sakānanaṁ sapabbataṁ;
Khomadussena chādeyyaṁ,
tadā mayhaṁ kate phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā dhajadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Dhajadāyakattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.
Walt 3093 The Teacher then was named Tissa,
the World’s Best One, the Bull of Men.
Having seen his passing away,
I hoisted a flag at that place. Verse 1
Walt 3094 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 2
Walt 3095 And afterwards, three hundred times,
I ruled over the world of gods.
And furthermore five hundred times
I was a king who turned the wheel. Verse 3
Walt 3096 There was also much local rule,
innumerable by counting.
I experienced own-karma,
formerly well done by myself. Verse 4
Walt 3097 In the ninety-two aeons since
I did that good karma back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of giving a flag. Verse 5
Walt 3098 Today, if I should wish for it,
the world with forests and mountains
is covered by a khoma cloth:
the fruit ofwhat I did back then. Verse 6
Walt 3099 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 7
Thus indeed Venerable Dhajadāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Dhajadāyaka Thera is finished.
BJT 3093Đấng Đạo Sư tên Tissa đã là bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu. Sau khi nhìn thấy sự đoạn tận mầm mống tái sanh (sự Viên Tịch Niết Bàn) của Ngài, tôi đã treo lên lá cờ.
BJT 3094Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 3095Tôi đã cai quản Thiên Quốc ba trăm lần và đã là đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.
BJT 3096Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Tôi thọ hưởng nghiệp của mình, (là nghiệp) đã khéo được thực hiện bởi bản thân trong thời quá khứ.
BJT 3097Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng lá cờ.
BJT 3098Và giờ đây, trong lúc mong muốn tôi có thể che đậy (mặt đất) có rừng rậm luôn cả núi non bằng loại vải sợi lanh; vào khi ấy quả báu của tôi đã được thể hiện.
BJT 3099Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Dhajadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Tisso nāma ahu satthā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Tayopadhikkhaye disvā,
dhajaṁ āropitaṁ mayā.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Satānaṁ tīṇikkhattuñca,
devarajjaṁ akārayiṁ;
Satānaṁ pañcakkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ.
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
gaṇanāto asaṅkhiyaṁ;
Anubhomi sakaṁ kammaṁ,
pubbe sukatamattano.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
dhajadānassidaṁ phalaṁ.
Icchamāno cahaṁ ajja,
sakānanaṁ sapabbataṁ;
Khomadussena chādeyyaṁ,
tadā mayhaṁ kate phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā dhajadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Dhajadāyakattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.