BJT 3132Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đấng đã vượt qua dòng nước lũ, không còn lậu hoặc, đang ngồi ở trong vùng đồi núi tợ như cây kaṇikāra đang cháy sáng.
BJT 3133Sau khi nhìn thấy cây tinduka có trái, tôi đã ngắt cả chùm. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng đến (đức Phật) Vessabhū.
BJT 3134Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3135Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tindukaphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Kaṇikāraṁva jotantaṁ,
nisinnaṁ pabbatantare;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
oghatiṇṇamanāsavaṁ.
Tindukaṁ saphalaṁ disvā,
bhinditvāna sakosakaṁ;
Pasannacitto sumano,
sayambhussa madāsahaṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ phalamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā tindukaphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tindukaphaladāyakattherassāpadānaṁ navamaṁ.
Walt 3132 I saw the Buddha, Stainless One,
the Flood-Crosser, Undefiled One,
sitting down on a mountainside,
shining like a dinner-plate tree. Verse 1
Walt 3133 Seeing wild mangosteen in bloom,
I broke off sprigs with fruit on them.
Happy, my heart filled with pleasure,
I gave them to him, Vessabhu. Verse 2
Walt 3134 In the ninety-one aeons since
I gave that fruit to the Buddha,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of giving fruit. Verse 3
Walt 3135 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 4
Thus indeed Venerable Tiṇḍukaphaladāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Tiṇḍukaphaladāyaka Thera is finished.
BJT 3132Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đấng đã vượt qua dòng nước lũ, không còn lậu hoặc, đang ngồi ở trong vùng đồi núi tợ như cây kaṇikāra đang cháy sáng.
BJT 3133Sau khi nhìn thấy cây tinduka có trái, tôi đã ngắt cả chùm. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng đến (đức Phật) Vessabhū.
BJT 3134Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 3135Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tindukaphaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Kaṇikāraṁva jotantaṁ,
nisinnaṁ pabbatantare;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
oghatiṇṇamanāsavaṁ.
Tindukaṁ saphalaṁ disvā,
bhinditvāna sakosakaṁ;
Pasannacitto sumano,
sayambhussa madāsahaṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ phalamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā tindukaphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tindukaphaladāyakattherassāpadānaṁ navamaṁ.