BJT 4922Khi ấy, tôi đã đi sâu vào núi Hi-mã-lạp rồi đọc tụng chú thuật. Năm mươi bốn ngàn người đệ tử đã phục vụ tôi.
BJT 4923Là những vị hiểu biết về kinh Vệ-đà, tất cả đã học thuộc lòng, đã đạt đến sự toàn hảo về sáu chi phần. Được hỗ trợ bởi những sự hiểu biết của chính bản thân, các vị ấy sống ở núi Hi-mã-lạp.
BJT 4924Sau khi mệnh chung từ tập thể cõi trời Đâu Suất, vị Thiên tử có danh vọng lớn lao đã sanh vào bụng mẹ với sự nhận biết và có niệm.
BJT 4925Khi bậc Toàn Giác đang được sanh ra, mười ngàn thế giới đã chuyển động. Khi đấng Lãnh Đạo đang được sanh ra, những người mù đã đạt được thị giác.
BJT 4926Toàn bộ quả đất này đã chuyển động với mọi hình thức. Sau khi nghe được tiếng gầm thét, đám đông dân chúng đã hoảng hốt.
BJT 4927Tất cả mọi người đã tập trung lại và đã đi đến gặp tôi (hỏi rằng): “Quả đất này đã chuyển động, sẽ có hậu quả gì đây?”
BJT 4928Khi ấy, tôi đã nói với họ rằng: “Các người chớ sợ hãi, sự nguy hại không có cho các người. Tất cả cũng nên tự tin, sự xuất hiện này là có điều tốt đẹp.
BJT 4929Bị tác động bởi tám nguyên nhân, quả đất này chuyển động. Các điều báo hiệu như thế này được nhìn thấy, có ánh sáng bao la vĩ đại.
BJT 4930Không còn nghi ngờ nữa, đức Phật tối thượng, bậc Hữu Nhãn sẽ hiện khởi.” Sau khi làm cho dân chúng biết rõ, tôi đã thuyết giảng về năm giới cấm.
BJT 4931Sau khi lắng nghe về năm giới cấm và về sự xuất hiện của đức Phật là điều hy hữu, họ đã trở nên hớn hở vui mừng với niềm phấn khởi đã được sanh lên, với tâm ý vui mừng.
BJT 4932(Kể từ khi) tôi đã giải thích về điềm báo hiệu trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc giải thích.
BJT 4933Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4934Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4935Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Nimittavyākaraṇiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Nimittavyākaraṇiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị trưởng lão liên quan đến bông hoa sālā, luôn cả vị cúng dường (giàn hỏa thiêu), và vị làm nguội (giàn hỏa thiêu), vị dâng cúng cây cầu, vị có cây quạt, (vị dâng lên) trái avaṇṭa, vị dâng lên trái mít, (vị dâng lên) trái sung, vị ca ngợi, và vị Bà-la-môn liên quan việc giải thích. Có bảy mươi hai câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Sālakusumiya là phẩm thứ bốn mươi bảy.
“Ajjhogāhetvā himavaṁ,
mante vāce mahaṁ tadā;
Catupaññāsasahassāni,
sissā mayhaṁ upaṭṭhahuṁ.
Adhitā vedagū sabbe,
chaḷaṅge pāramiṁ gatā;
Sakavijjāhupatthaddhā,
himavante vasanti te.
Cavitvā tusitā kāyā,
devaputto mahāyaso;
Uppajji mātukucchismiṁ,
sampajāno patissato.
Sambuddhe upapajjante,
dasasahassi kampatha;
Andhā cakkhuṁ alabhiṁsu,
uppajjantamhi nāyake.
Sabbākāraṁ pakampittha,
kevalā vasudhā ayaṁ;
Nigghosasaddaṁ sutvāna,
ubbijjiṁsu mahājanā.
Sabbe janā samāgamma,
āgacchuṁ mama santikaṁ;
‘Vasudhāyaṁ pakampittha,
kiṁ vipāko bhavissati’.
Avacāsiṁ tadā tesaṁ,
‘mā bhetha natthi vo bhayaṁ;
Vissatthā hotha sabbepi,
uppādoyaṁ suvatthiko.
Aṭṭhahetūhi samphussa,
vasudhāyaṁ pakampati;
Tathā nimittā dissanti,
obhāso vipulo mahā.
Asaṁsayaṁ buddhaseṭṭho,
uppajjissati cakkhumā’;
Saññāpetvāna janataṁ,
pañca sīle kathesahaṁ.
Sutvāna pañca sīlāni,
buddhuppādañca dullabhaṁ;
Ubbegajātā sumanā,
tuṭṭhahaṭṭhā ahaṁsu te.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ nimittaṁ viyākariṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
byākaraṇassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā nimittabyākaraṇiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Nimittabyākaraṇiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Sālakusumiyavaggo sattacattālīsamo.
Tassuddānaṁ
Sālakusumiyo thero,
pūjā nibbāpakopi ca;
Setudo tālavaṇṭī ca,
avaṭalabujappado.
Pilakkhapaṭibhānī ca,
veyyākaraṇiyo dijo;
Dvesattati ca gāthāyo,
gaṇitāyo vibhāvibhi.
Walt 4922 Plunged into the Himalayas,
I’m reciting mantras back the,
and fifty-four thousand students
attended on me in that place. Verse 1
Walt 4923 They all learned by heart, true knowers,
were masters of Vedic science;
having come of their own accord,
they dwelt in the Himalayas. Verse 2
Walt 4924 The Son of a God, Greatly Famed,
falling from Tusitā heaven,
was reborn in a mother’s womb,
attentive and remembering. Verse 3
Walt 4925 When the Buddha was being born,
the ten-thousand world-system quaked,
and those who were blind obtained eyes,
when the Leader was being born. Verse 4
Walt 4926 This entire great bountiful earth
quaked in every manner.
Having heard the sound of shouting,
the populace was frightened then. Verse 5
Walt 4927 All the people came together,
and they came into my presence.
“The great bountiful earth has quaked,
what will this be the result of?” Verse 6
Walt 4928 I answered them, “Don’t be frightened;
there is nothing for you to fear.
Let all of you be confident;
this omen portends happiness. Verse 7
Walt 4929 This great bountiful earth quakes through
contact with one of eight causes.
Likewise this sign is also seen:
there’s a huge effulgence of light. Verse 8
Walt 4930 Without a doubt a Best Buddha,
an Eyeful One, will soon be born!”
Having thus informed the people,
I spoke about the five precepts. Verse 9
Walt 4931 Hearing of the five precepts, and
a Buddha’s birth, hard to obtain,
happy and full of excitement,
their hair stood on end in delight. Verse 10
Walt 4932 In the ninety-two aeons since
I explained the signs at that time,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of explaining. Verse 11
Walt 4933 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 12
Walt 4934 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 13
Walt 4935 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 14
Thus indeed Venerable Nimittavyākaraṇiya Thera spoke these verses.
The legend of Nimittavyākaraṇiya Thera is finished.
The Summary:
Sālakusumiya Thera,
Pūjā and Nibbāpaka too,
Setuda and Tālavaṇṭī,
Avaṇṭa, Labuja-ppada,
Pilakkha and Paṭibhāṇī,
brahmin Veyyakaraṇaka:
exactly two hundred verses
are counted here by those who know.
The Sālakusumiya Chapter, the Forty-Seventh