BJT 5025Trong thời quá khứ, tôi đã là thợ săn thú rừng ở trong khu rừng hoang rậm. Trong lúc tìm kiếm loài linh dương, tôi đã nhìn thấy con đường kinh hành.
BJT 5026Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã ôm cát ở bên hông (bằng vạt y) và đã rải lên đường kinh hành của đấng Thiện Thệ quang vinh.
BJT 5027(Kể từ khi) tôi đã rải cát trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cát.
BJT 5028Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5029Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5030Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pulinacaṅkamiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pulinacaṅkamiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị có tràng hoa sậy, vị dâng ngọc ma-ni, vị có trăm ngọn đuốc, vị có cây quạt, món sữa đông, thẻ vật thực, luôn cả bông hoa nguyệt quế ở núi, trái cây vallikāra, vị dâng đôi dép, và đường kinh hành rải cát. Có chín mươi lăm câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Naḷamālī là phẩm thứ bốn mươi tám.
“Migaluddo pure āsiṁ,
araññe kānane ahaṁ;
Vātamigaṁ gavesanto,
caṅkamaṁ addasaṁ ahaṁ.
Ucchaṅgena pulinaṁ gayha,
caṅkame okiriṁ ahaṁ;
Pasannacitto sumano,
sugatassa sirīmato.
Ekatiṁse ito kappe,
pulinaṁ okiriṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
pulinassa idaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pulinacaṅkamiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pulinacaṅkamiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Naḷamālivaggo aṭṭhacattālīsamo.
Tassuddānaṁ
Naḷamālī maṇidado,
ukkāsatikabījanī;
Kummāso ca kusaṭṭho ca,
giripunnāgiyopi ca.
Vallikāro pānadhido,
atho pulinacaṅkamo;
Gāthāyo pañcanavuti,
gaṇitāyo vibhāvibhi.
Walt 5025 In the past, in a forest grove,
I was a man who hunted deer.
Searching after a vāta-deer,
I saw the Buddha’s walkway there. Verse 1
Walt 5026 Happy, with pleasure in my heart,
taking sand in my lap-pocket,
I sprinkled it on the walkway
of the Well-Gone One, Splendid One. Verse 2
Walt 5027 In the thirty-one aeons since
I sprinkled that sand at that time,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of giving sand. Verse 3
Walt 5028 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 4
Walt 5029 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 5
Walt 5030 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 6
Thus indeed Venerable Pulinacaṅkamiya Thera spoke these verses.
The legend of Pulinacaṅkamiya Thera is finished.
The Summary:
Naḷamālī, Maṇidada,
Ukkāsatika, Vījanī,
Kummāsa and Kusaṭṭha too,
also Giripunnāgiya,
Vallikāra, Pānadhida
and then Pulīnacaṅkama:
five and ninety are the verses
that are counted by those who know.
The Naḷamāli Chapter, the Forty-Eighth
BJT 5025Trong thời quá khứ, tôi đã là thợ săn thú rừng ở trong khu rừng hoang rậm. Trong lúc tìm kiếm loài linh dương, tôi đã nhìn thấy con đường kinh hành.
BJT 5026Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã ôm cát ở bên hông (bằng vạt y) và đã rải lên đường kinh hành của đấng Thiện Thệ quang vinh.
BJT 5027(Kể từ khi) tôi đã rải cát trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cát.
BJT 5028Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5029Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5030Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pulinacaṅkamiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pulinacaṅkamiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị có tràng hoa sậy, vị dâng ngọc ma-ni, vị có trăm ngọn đuốc, vị có cây quạt, món sữa đông, thẻ vật thực, luôn cả bông hoa nguyệt quế ở núi, trái cây vallikāra, vị dâng đôi dép, và đường kinh hành rải cát. Có chín mươi lăm câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Naḷamālī là phẩm thứ bốn mươi tám.
“Migaluddo pure āsiṁ,
araññe kānane ahaṁ;
Vātamigaṁ gavesanto,
caṅkamaṁ addasaṁ ahaṁ.
Ucchaṅgena pulinaṁ gayha,
caṅkame okiriṁ ahaṁ;
Pasannacitto sumano,
sugatassa sirīmato.
Ekatiṁse ito kappe,
pulinaṁ okiriṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
pulinassa idaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pulinacaṅkamiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pulinacaṅkamiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Naḷamālivaggo aṭṭhacattālīsamo.
Tassuddānaṁ
Naḷamālī maṇidado,
ukkāsatikabījanī;
Kummāso ca kusaṭṭho ca,
giripunnāgiyopi ca.
Vallikāro pānadhido,
atho pulinacaṅkamo;
Gāthāyo pañcanavuti,
gaṇitāyo vibhāvibhi.