BJT 1368“Ai là người nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, đấng Anh Hùng cao thượng quý phái, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Chinh Phục mà không tịnh tín?
BJT 1369Tợ như núi Hi-mã-lạp là không thể đo lường được, tợ như biển cả là khó mà vượt qua, tương tợ y như thế về thiền của đức Phật, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
BJT 1370Giống như trái đất với vòng đai rừng đa dạng là không thể ước lượng được, tương tợ y như thế về giới của đức Phật, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
BJT 1371Tợ như không gian là không bị khuấy động, giống như bầu trời là không thể tính đếm, tương tợ y như thế về trí của đức Phật, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?”
BJT 1372Vị Bà-la-môn tên Sena đã ngợi ca đức Phật tối thượng, bậc không bị đánh bại Siddhattha, bằng bốn câu kệ này.
BJT 1373(Vị ấy) đã không đi đến khổ cảnh trong chín mươi bốn kiếp, đã thọ hưởng sự thành đạt tốt đẹp ở các cõi trời không phải là ít.
BJT 1374Sau khi ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 1375(Trước đây) mười bốn kiếp, đã có bốn vị tên Uggata là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1376Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Parappasādakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Usabhaṁ pavaraṁ vīraṁ,
Mahesiṁ vijitāvinaṁ;
Suvaṇṇavaṇṇaṁ sambuddhaṁ,
Ko disvā nappasīdati.
Himavāvāparimeyyo,
sāgarova duruttaro;
Tatheva jhānaṁ buddhassa,
ko disvā nappasīdati.
Vasudhā yathāppameyyā,
cittā vanavaṭaṁsakā;
Tatheva sīlaṁ buddhassa,
ko disvā nappasīdati.
Anilañjasāsaṅkhubbho,
yathākāso asaṅkhiyo;
Tatheva ñāṇaṁ buddhassa,
ko disvā nappasīdati.
Imāhi catugāthāhi,
brāhmaṇo senasavhayo;
Buddhaseṭṭhaṁ thavitvāna,
siddhatthaṁ aparājitaṁ.
Catunnavutikappāni,
duggatiṁ nupapajjatha;
Sugatiṁ sukhasampattiṁ,
anubhosimanappakaṁ.
Catunnavutito kappe,
thavitvā lokanāyakaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
thomanāya idaṁ phalaṁ.
Cātuddasamhi kappamhi,
caturo āsumuggatā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā parappasādako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Parappasādakattherassāpadānaṁ catutthaṁ.
Walt 1368 “Who is not pleased after seeing
the Bull, the Best One, the Hero,
the Sage So Great, Victorious One,
the Golden-Colored Sambuddha? Verse 1
Walt 1369 Who is not pleased after seeing
the Buddha’s meditative states,
boundless as the Himalayas,
as hard to cross as the ocean? Verse 2
Walt 1370 Who is not pleased after seeing
the Buddha’s moral discipline,
as boundless as the earth itself,
diverse wreath of forest-flowers? Verse 3
Walt 1371 Who is not pleased after seeing
the knowledge Buddha possesses,
unagitated like the sky,
as unfathomable as space?” Verse 4
Walt 1372 Having extolled the Best Buddha,
Siddhattha, the Unconquered One,
with these four verses when I was
the brahmin whose name was Yena, Verse 5
Walt 1373 I was reborn in no ill-state
for four and ninety aeons thence;
I enjoyed no small quantity
of happiness in good rebirths. Verse 6
Walt 1374 In the ninety-four aeons since
I praised the Leader of the World,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of praising him. Verse 7
Walt 1375 In the fourteenth aeon ago
there were four men named Uggata,
wheel-turning kings with great power,
possessors of the seven gems. Verse 8
Walt 1376 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Parappasādaka Thera spoke these verses.
The legend of Parappasādaka Thera is finished.
BJT 1368“Ai là người nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, đấng Anh Hùng cao thượng quý phái, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Chinh Phục mà không tịnh tín?
BJT 1369Tợ như núi Hi-mã-lạp là không thể đo lường được, tợ như biển cả là khó mà vượt qua, tương tợ y như thế về thiền của đức Phật, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
BJT 1370Giống như trái đất với vòng đai rừng đa dạng là không thể ước lượng được, tương tợ y như thế về giới của đức Phật, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
BJT 1371Tợ như không gian là không bị khuấy động, giống như bầu trời là không thể tính đếm, tương tợ y như thế về trí của đức Phật, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?”
BJT 1372Vị Bà-la-môn tên Sena đã ngợi ca đức Phật tối thượng, bậc không bị đánh bại Siddhattha, bằng bốn câu kệ này.
BJT 1373(Vị ấy) đã không đi đến khổ cảnh trong chín mươi bốn kiếp, đã thọ hưởng sự thành đạt tốt đẹp ở các cõi trời không phải là ít.
BJT 1374Sau khi ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 1375(Trước đây) mười bốn kiếp, đã có bốn vị tên Uggata là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1376Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Parappasādakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Usabhaṁ pavaraṁ vīraṁ,
Mahesiṁ vijitāvinaṁ;
Suvaṇṇavaṇṇaṁ sambuddhaṁ,
Ko disvā nappasīdati.
Himavāvāparimeyyo,
sāgarova duruttaro;
Tatheva jhānaṁ buddhassa,
ko disvā nappasīdati.
Vasudhā yathāppameyyā,
cittā vanavaṭaṁsakā;
Tatheva sīlaṁ buddhassa,
ko disvā nappasīdati.
Anilañjasāsaṅkhubbho,
yathākāso asaṅkhiyo;
Tatheva ñāṇaṁ buddhassa,
ko disvā nappasīdati.
Imāhi catugāthāhi,
brāhmaṇo senasavhayo;
Buddhaseṭṭhaṁ thavitvāna,
siddhatthaṁ aparājitaṁ.
Catunnavutikappāni,
duggatiṁ nupapajjatha;
Sugatiṁ sukhasampattiṁ,
anubhosimanappakaṁ.
Catunnavutito kappe,
thavitvā lokanāyakaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
thomanāya idaṁ phalaṁ.
Cātuddasamhi kappamhi,
caturo āsumuggatā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā parappasādako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Parappasādakattherassāpadānaṁ catutthaṁ.