BJT 1393Lúc bấy giờ, tôi đã là loài chim có màu sắc đẹp đẽ, là vị thống lãnh loài nhân điểu. Tôi đã nhìn thấy đức Phật bậc Vô Nhiễm đang đi ở núi Gandhamādana.
BJT 1394Sau khi bỏ đi dáng vóc của loài nhân điểu, tôi đã mang lốt người thanh niên. Tôi đã dâng cúng một tấm vải đến đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 1395Và sau khi tiếp nhận mảnh vải ấy, đức Phật, đấng Lãnh Đạo cao cả của thế gian, bậc Đạo Sư đứng ở không trung, đã nói lên lời kệ này:
BJT 1396“Do sự dâng cúng tấm vải này và do các nguyện lực của tâm, sau khi từ bỏ nguồn gốc nhân điểu (người ấy) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên.”
BJT 1397Và sau khi ca ngợi sự dâng cúng tấm vải, đức Thế Tôn Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 1398Trong khi sanh ra ở cõi hữu, tôi có được sự thành tựu về vải vóc, có được mái che ở trên không trung; điều này là quả báu của việc dâng cúng tấm vải.
BJT 1399(Trước đây) 36 kiếp, đã có bảy người tên Aruṇaka là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao, là các vị thống lãnh nhân loại.
BJT 1400Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vatthadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Vatthadāyaka là phần thứ bảy.
“Pakkhijāto tadā āsiṁ,
supaṇṇo garuḷādhipo;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
gacchantaṁ gandhamādanaṁ.
Jahitvā garuḷavaṇṇaṁ,
māṇavakaṁ adhārayiṁ;
Ekaṁ vatthaṁ mayā dinnaṁ,
dvipadindassa tādino.
Tañca dussaṁ paṭiggayha,
buddho lokagganāyako;
Antalikkhe ṭhito satthā,
imā gāthā abhāsatha.
‘Iminā vatthadānena,
cittassa paṇidhīhi ca;
Pahāya garuḷaṁ yoniṁ,
devaloke ramissati’.
Atthadassī tu bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Vatthadānaṁ pasaṁsitvā,
pakkāmi uttarāmukho.
Bhave nibbattamānamhi,
honti me vatthasampadā;
Ākāse chadanaṁ hoti,
vatthadānassidaṁ phalaṁ.
Aruṇavā satta janā,
cakkavattī mahabbalā;
Chattiṁsatimhi āsiṁsu,
kappamhi manujādhipā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā vatthadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Vatthadāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 1393 I was born as a bird back then,
with good strong wings, a harpy-king.
I saw the Stainless Buddha go
on Gandhamādana Mountain. Verse 1
Walt 1394 Shedding my harpy appearance,
I got dressed in human clothing.
One piece of cloth I gave to the
Lord of Bipeds, the Neutral One. Verse 2
Walt 1395 Having taken that piece of cloth,
the Buddha, the World’s Top Leader,
the Teacher, standing in the sky
spoke these verses about me then: Verse 3
Walt 1396 “Because of the gift of this cloth
and the resolve in his own heart,
abandoning the harpy womb
he’ll delight in the world of gods.” Verse 4
Walt 1397 But Atthadassi, Blessed One,
the World’s Best One, the Bull of Men,
after praising the gift of cloth
then departed facing the north. Verse 5
Walt 1398 When I’m reborn in existence
attainments of cloth befall me;
there’s a canopy in the sky:
that is the fruit of giving cloth. Verse 6
Walt 1399 Seven men named Aruṇaka
were wheel-turners with great power.
In the thirty-fourth aeon hence
they were the lords over people. Verse 7
Walt 1400 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Vatthadāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Vatthadāyaka Thera is finished.
BJT 1393Lúc bấy giờ, tôi đã là loài chim có màu sắc đẹp đẽ, là vị thống lãnh loài nhân điểu. Tôi đã nhìn thấy đức Phật bậc Vô Nhiễm đang đi ở núi Gandhamādana.
BJT 1394Sau khi bỏ đi dáng vóc của loài nhân điểu, tôi đã mang lốt người thanh niên. Tôi đã dâng cúng một tấm vải đến đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 1395Và sau khi tiếp nhận mảnh vải ấy, đức Phật, đấng Lãnh Đạo cao cả của thế gian, bậc Đạo Sư đứng ở không trung, đã nói lên lời kệ này:
BJT 1396“Do sự dâng cúng tấm vải này và do các nguyện lực của tâm, sau khi từ bỏ nguồn gốc nhân điểu (người ấy) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên.”
BJT 1397Và sau khi ca ngợi sự dâng cúng tấm vải, đức Thế Tôn Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 1398Trong khi sanh ra ở cõi hữu, tôi có được sự thành tựu về vải vóc, có được mái che ở trên không trung; điều này là quả báu của việc dâng cúng tấm vải.
BJT 1399(Trước đây) 36 kiếp, đã có bảy người tên Aruṇaka là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao, là các vị thống lãnh nhân loại.
BJT 1400Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vatthadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Vatthadāyaka là phần thứ bảy.
“Pakkhijāto tadā āsiṁ,
supaṇṇo garuḷādhipo;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
gacchantaṁ gandhamādanaṁ.
Jahitvā garuḷavaṇṇaṁ,
māṇavakaṁ adhārayiṁ;
Ekaṁ vatthaṁ mayā dinnaṁ,
dvipadindassa tādino.
Tañca dussaṁ paṭiggayha,
buddho lokagganāyako;
Antalikkhe ṭhito satthā,
imā gāthā abhāsatha.
‘Iminā vatthadānena,
cittassa paṇidhīhi ca;
Pahāya garuḷaṁ yoniṁ,
devaloke ramissati’.
Atthadassī tu bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Vatthadānaṁ pasaṁsitvā,
pakkāmi uttarāmukho.
Bhave nibbattamānamhi,
honti me vatthasampadā;
Ākāse chadanaṁ hoti,
vatthadānassidaṁ phalaṁ.
Aruṇavā satta janā,
cakkavattī mahabbalā;
Chattiṁsatimhi āsiṁsu,
kappamhi manujādhipā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā vatthadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Vatthadāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.