Chuyển đến nội dung chính
Trang chủ Phân Loại Kiến Thức Cơ Bản Nguyên lý vận hành của tâm
1. 7 pháp đoạn trừ lậu hoặc 2. Giảng về vô ngã 3. Cái nhìn như thị đoạn tận khổ đau 4. Nhận thức về tưởng và tác ý khi thiền định 5. Các vấn đề về nghiệp và nhân quả 6. Quy trình vận hành của nghiệp và cách giải 7. Nhân quả của 10 nghiệp thường có 8. Sự khác biệt giữa cách tu của Bà la môn và Phật Gotama 9. Chánh tri kiến là ưu tiên đi trước 10. Ý nghĩa của chủng tử 11. Nhân duyên của nghiệp 12. Tầm quan trọng của 5 giới 13. Chướng ngại và nghiệp chướng 14. 3 nhân duyên khiến nghiệp khởi lên 15. 4 loại nghiệp đen trắng 16. Vấn đề khổ nội tâm 17. Nhận thức con đường tu tập trung đạo 18. Người gặp Phật nhưng không giác ngộ do nghiệp dày 19. Nguyên tắc tái sanh của nghiệp 20. 10 điều không nên vội tin 21. Các nỗi sợ hãi của con người và cách trị 22. Nguyên nhân khởi lên các nghiệp 23. Lí do con người bị đau khổ ràng buộc 24. Nhận thức về các loại tội 25. Ảnh hưởng của tà kiến và chánh kiến khi không như lý tác ý 26. Tầm quan trọng của Tứ Thánh đế và Như Lai 27. Nhờ lạc và hỷ mà 4 Thánh đế được chứng ngộ 28. Trí tuệ của Như Lai là vô biên 29. Những điều cơ bản nhất Phật Gotama muốn nói 30. Khẳng định tầm quan trọng của Tứ thánh đế 31. Kinh Chuyển pháp luân (Rất quan trọng) 32. Tầm quan trọng của Tứ thánh đế với người tại gia 33. Cách tu tập 5 căn 34. Các pháp tu tập khi ứng dụng Bát chánh đạo 35. Cách giải thoát nhờ Bát chánh đạo 36. Giới là nền tảng cơ bản cùng Bát chánh đạo 37. Không phóng dật là cơ bản của các thiện pháp 38. Bát chánh đạo giúp người qua bờ bên kia 39. Con đường tu tập cơ bản của người tại gia và xuất gia 40. Bát chánh đạo là gì? 41. Mục đích của Bát chánh đạo là giải trừ khổ đau 42. Giá trị của lấy thiện làm bạn hữu 43. Người xuất gia không nên thực hành cực đoan 44. Cách thoát khỏi tà kiến 45. Bát chánh đạo là con đường dẫn đến Niết bàn và A La Hán 46. Phương pháp giải trừ nghiệp cũ và mới 47. Cội gốc của đau khổ 48. Khái niệm vô thường, khổ vô ngã 49. Chi tiết các loại khổ và vô thường 50. Chi tiết về vòng luân hồi của con người 51. Con đường Bát chánh đạo dẫn đến giải thoát 52. Nhân quả khi thực hành thân, khẩu, ý 53. Sự sai biệt của các giới do duyên khởi 54. Vấn đề quan điểm, lòng tin và duyên khởi 55. Lý duyên khởi là cơ sở quan trọng để giải thích các vấn đề 56. Vấn đề tâm thức 57. Vấn đáp về sống chết 58. Nguyên nhân đoạn trừ vô minh phiền não 59. Vấn đáp về đau khổ 60. Thế nào là niết bàn ngay trong hiện tại 61. Vấn đáp về niết bàn và đau khổ 62. Phân tích duyên khởi về đồ ăn 63. Phân tích duyên khởi 64. Phân biệt các hạng người và hành vi nhân quả 65. Bát chánh đạo là đường đưa đến chứng ngộ 66. 7 pháp tu tập để đạt chánh định 67. Bát chánh đạo là con đường duy nhất để tu tập chứng đắc 68. Phật Gotama khẳng định tầm quan trọng của Bát chánh đạo 69. Mọi thứ trên đời đều là vô thường 70. Lí do luân hồi 71. Chúng sanh căn nghiệp khác nhau 72. Phương pháp tư duy về sanh, già, bệnh, chết 73. Vì không hiểu nhân duyên nên con người khổ 74. Nguyên nhân hình thành con người 75. Nhận thức về Duyên khởi 76. Phật Gotama khẳng định nguồn gốc Tứ thánh đế 77. Chánh kiến là gì 78. Dục là nhân là duyên là nguyên nhân đau khổ 79. Hãy sống với hiện tại bằng lý Duyên khởi 80. Phương pháp tu tập giải nghiệp 81. Nhân quả của thói quen 82. 3 nguyên do đau khổ cốt lõi ở đời 83. Bát chánh đạo là pháp môn duy nhất để giải thoát 84. 3 pháp làm người bất an 85. 4 lí do không làm ác nghiệp 86. 4 nghiệp gây phiền não 87. Cách sống để về cõi lành 88. Khi người làm ác biết hối cải sẽ được tôn trọng 89. Nhân quả luân hồi 90. Nhân duyên của 4 pháp hành 91. 10 điều thiện và 10 điều bất thiện 92. Quy tắc giảng dạy của Phật Gotama 93. Phật Gotama khẳng định giá trị của Tứ niệm xứ 94. Cái nhìn chân thật về khổ và cách đoạn trừ 95. Các loại ác pháp 96. Bát chánh đạo là con đường diệt trừ ác pháp 97. Lí do sống đau khổ 98. Phương pháp học tập chân chính 99. Người nói láo mà không biết xấu hổ thì rất ác 100. Cách sống để không bị nghiệp ác 101. Lí do có trí tuệ hay không 102. Lí do sanh vào gia đình cao quý hay không 103. Lí do giàu 104. Lí do nghèo 105. Lí do nhiều quyền thế 106. Lí do dung mạo xinh đẹp 107. Lí do mạnh khỏe 108. Lí do hay bệnh 109. Lí do sống thọ 110. Lí do chết yểu 111. Lí do con người có sự khác nhau 112. Nhân quả của 4 loại nghiệp 113. Vấn đáp về nghiệp: Ý nghiệp là nặng nhất 114. Thế nào là sự tinh tấn có kết quả 115. Nghiệp không do mong cầu mà giải được 116. 2 quả báo trong hiện tại 117. Cách giải nghiệp 118. Ai cũng có thể chứng quả A la hán trong kiếp sống này 119. Tánh con người sai biệt nhau 120. Phương pháp giải nghiệp và 4 loại nghiệp 121. Nhân quả của việc tu tập sai 122. Con đường tu tập cơ bản nhất của Phật giáo 123. Những điều mà người tại gia và xuất gia cần phải biết và thực hành 124. Nguyên nhân và cách thoát khỏi luân hồi 125. Vòng luân hồi 126. 4 loại thức ăn cho các loài hữu tình 127. Thức do duyên khởi. Không có duyên, thức không hiện khởi. 128. Tầm quan trọng của Lý Duyên khởi 129. Khổ Thánh đế là gì? 130. Tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế. 131. Truyền thống tốt đẹp do Phật thiết lập là Bát chánh đạo 132. Muốn thực tu tăng thượng tâm cần phải thường thường tác ý năm tướng 133. Lời giáo huấn cốt lõi của Như Lai 134. 5 cám dỗ của con người 135. 5 chướng ngại của đời người 136. Phương pháp giải quyết vấn đề 7: Do tu tập 137. Phương pháp giải quyết vấn đề 6: Do trừ diệt 138. Phương pháp giải quyết vấn đề 5: Do tránh né 139. Phương pháp giải quyết vấn đề 4: Do kham nhẫn 140. Phương pháp giải quyết vấn đề 3: Do thọ dụng 141. Phương pháp giải quyết vấn đề 2: Do phòng hộ 142. Phương pháp giải quyết vấn đề 1: Do tri kiến 143. Nguyên nhân căn bản của phiền não là sanh y 144. Nguyên lý vận hành của tâm 145. Suốt cuộc đời Phật nói gì? 146. Vấn đề vô thường và vô ngã 147. Vấn đề lo âu
Kiến Thức Cơ Bản

Nguyên lý vận hành của tâm

Tâm hướng về điều gì nhiều thì nghiệp sẽ đi về hướng đó:

  1. Thiên nặng về vật chất thế gian
  2. Thiên nặng về Bất động
  3. Thiên nặng về Vô sở hữu
  4. Thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ
  5. Thiên nặng về chánh Niết-bàn
"— Này Sunakkhatta, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… ; các hương do mũi nhận thức… ; các vị do lưỡi nhận thức… ; các xúc do thân cảm xúc khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Sunakkhatta, những pháp này là năm dục trưởng dưỡng.

Nhưng này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế gian, này Sunakkhatta, câu chuyện (thích hợp với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người nào người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.

Ví như, này Sunakkhatta, có người đã lâu không trú ở trong làng hay thị trấn của mình, và có thể thấy một người vừa mới từ làng ấy hay thị trấn ấy lại. Người này sẽ hỏi người ấy về sự an ninh của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và về ít bệnh tật, và người ấy sẽ nói cho người này biết về sự an ổn của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và về ít bệnh tật. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Có phải người này sẽ nghe người kia, lóng tai, tâm an trú vào trí giác và người này sẽ giao thiệp với người ấy mà người này thích thú?

— Thưa phải vậy, bạch Thế Tôn.

— Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế gian, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú. Người ấy cần được hiểu như vầy: “Là hạng người thiên nặng về vật chất thế gian”.

Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi một số người thiên nặng về Bất động. Ðối với người thiên nặng về Bất động, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp (với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến vật chất thế gian, thời người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.

Ví như, này Sunakkhatta, một lá vàng khô đã rời khỏi cành, không còn xanh trở lại; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Bất động, đã rời khỏi kiết sử vật chất thế gian. Người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử vật chất thế gian, thiên nặng về Bất động”.

Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về Vô sở hữu. Ðối với người thiên nặng về Vô sở hữu, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.

Ví như, này Sunakkhatta, một hòn đá bị vỡ làm đôi không thể nối liền lại được; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Vô sở hữu, đã bị chặt đứt khỏi kiết sử Bất động, người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Bất động, thiên nặng về Vô sở hữu”.

Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðối với người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Vô sở hữu xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.

Ví như, này Sunakkhatta, một người đã ăn các món ăn mỹ vị và đã quăng bỏ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có ưa ăn lại món ăn ấy không?

— Bạch Thế Tôn không. Vì sao vậy? Vì rằng, bạch Thế Tôn, món ăn ấy được xem là ghê tởm rồi.

— Cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã để một bên kiết sử Vô sở hữu xứ. Người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Vô sở hữu xứ, thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ”.

Này Sunakkhatta sự tình này xảy ra, khi ở đây, có số người thiên nặng về chánh Niết-bàn. Ðối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người mà ấy không thích.

Ví như, này Sunakkhatta, cây tala ngọn cây đã bị chặt đứt không thể lớn được nữa; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, đã cắt đứt kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã cắt đứt từ rễ, làm cho như cây tala không thể tái sanh, không thể khởi lên lại trong tương lai. Người ấy cần phải được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thiên nặng về chánh Niết-bàn”.”

xem chi tiết:

https://buocdauhocphat.com/kinh-trung-bo-tap-iii-105-kinh-thien-tinh-sunakkhatta-sutta

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc