TRONG VIỆC THUYẾT GIẢNG GIÁO PHÁP
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng.’ Và thêm nữa: ‘Tâm của vị đạt đến phẩm vị Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp.’
Thưa ngài Nāgasena, giống như viên xạ thủ, hoặc các học trò của viên xạ thủ, sau khi học tập thuật bắn cung vì mục đích chiến trận trong nhiều ngày, đến khi cuộc chiến đấu lớn xảy ra thì có thể thối lui. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng, nhưng khi đã đạt đến phẩm vị Toàn Tri thì Ngài đã thối lui trong việc thuyết giảng Giáo Pháp.
Thưa ngài Nāgasena, hoặc là giống như người võ sĩ đấu vật, hoặc các học trò của người võ sĩ đấu vật, sau khi học tập thuật đấu vật trong nhiều ngày, đến khi trận đấu lớn xảy ra thì có thể thối lui. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng, nhưng khi đã đạt đến phẩm vị Toàn Tri thì Ngài đã thối lui trong việc thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 2Thưa ngài Nāgasena, phải chăng đức Như Lai đã thối lui vì sợ hãi? Hay đã thối lui vì chưa được rành rẽ? Hay đã thối lui vì năng lực yếu kém? Hay đã thối lui vì chưa phải phẩm vị Toàn Tri? Ở đây, điều gì là lý do? Nào, xin ngài hãy nói cho trẫm lý do nhằm vượt qua nỗi nghi hoặc.
Thưa ngài Nāgasena, nếu trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng, như thế thì lời nói rằng: ‘Tâm của vị đạt đến phẩm vị Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp’ là sai trái. Nếu tâm của vị đạt đến phẩm vị Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp, như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, thâm sâu, khó tháo gỡ, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 3“Tâu đại vương, trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, trí Toàn Tri đã được đức Như Lai làm cho chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng. Và tâm của vị đạt đến trí Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Vả lại, sau khi nhìn thấy tính chất thâm sâu, khôn khéo, khó thấy, khó giác ngộ, tinh vi, khó thấu triệt của Giáo Pháp, trạng thái ham thích tiềm ẩn của chúng sanh, và tính chất bám víu cứng nhắc vào quan điểm của chính mình, (thì nghĩ rằng): ‘(Thuyết giảng) về cái gì? Bằng cách nào?’ và tâm đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Điều này chính là sự suy nghĩ và tâm ý về việc giác ngộ của chúng sanh.
Tâu đại vương, giống như người thầy thuốc phẫu thuật, sau khi đi đến gặp người bị hành hạ bởi nhiều căn bệnh, thì suy nghĩ như vầy: ‘Bằng cách thức gì, hoặc với phương thuốc nào thì căn bệnh của người này có thể được lắng xuống?’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai, sau khi nhìn thấy loài người bị hành hạ bởi mọi căn bệnh phiền não và tính chất thâm sâu, khôn khéo, khó thấy, khó giác ngộ, tinh vi, khó thấu triệt của Giáo Pháp, (thì nghĩ rằng): ‘(Thuyết giảng) về cái gì? Bằng cách nào?’ và tâm đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Điều này chính là sự suy nghĩ và tâm ý về việc giác ngộ của chúng sanh.
BJT 4Tâu đại vương, giống như đối với đức vua dòng Sát-đế-lỵ đã được rưới nước thơm ở đầu (làm lễ phong vương), sau khi nhìn thấy những người giữ cổng, lính gác, quần thần, thị dân, nhân công, binh lính, quan đại thần, hoàng tộc, và thuộc hạ thì có thể khởi tâm như vầy: ‘Trẫm sẽ hậu đãi cái gì cho những người này? Bằng cách nào?’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai, sau khi nhìn thấy tính chất thâm sâu, khôn khéo, khó thấy, khó giác ngộ, tinh vi, khó thấu triệt của Giáo Pháp, trạng thái ham thích tiềm ẩn của chúng sanh, và tính chất bám víu cứng nhắc vào quan điểm của chính mình, (thì nghĩ rằng): ‘(Thuyết giảng) về cái gì? Bằng cách nào?’ và tâm đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Sự suy nghĩ và tâm ý về việc giác ngộ của chúng sanh chính là điều này.
BJT 5Tâu đại vương, thêm nữa điều này là quy luật của các đức Như Lai, là việc các Ngài thuyết giảng Giáo Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu. Vậy trong trường hợp ấy, điều gì là lý do? Vào lúc bấy giờ, tất cả các vị đạo sĩ khổ hạnh, du sĩ, Sa-môn, Bà-la-môn là những người thờ phụng đấng Brahmā, kính trọng đấng Brahmā, nương tựa đấng Brahmā. Do đó, (nghĩ rằng): ‘Với sự hạ mình của vị (Brahmā) có năng lực, có danh vọng, được biết tiếng, được nổi tiếng, hơn hẳn, được vượt trội ấy, thì thế gian luôn cả chư Thiên sẽ hạ mình, sẽ tin tưởng, sẽ quy thuận (Ta).’ Tâu đại vương, và vì lý do này mà đức Như Lai thuyết giảng Giáo Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu.
Tâu đại vương, giống như vị vua nào đó, hoặc quan đại thần của vị vua, hạ mình, thể hiện sự cung kính đối với người nào, do sự hạ mình của vị ấy đối với người có năng lực trội hơn, mà số dân chúng còn lại hạ mình, thể hiện sự cung kính. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi Phạm Thiên hạ mình đối với các đức Như Lai thì thế gian luôn cả chư Thiên sẽ hạ mình. Tâu đại vương, thế gian tôn vinh bậc đã được tôn vinh. Do đó, vị Phạm Thiên ấy thỉnh cầu tất cả các đức Như Lai về việc thuyết giảng Giáo Pháp. Và vì lý do ấy, các đức Như Lai thuyết giảng Giáo Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ, việc giải thích thật là tuyệt hảo. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về trạng thái không nỗ lực
trong việc thuyết giảng Giáo Pháp của đức Thế Tôn là thứ mười.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācitaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāyā’ti.
Puna ca ‘sabbaññutaṁ pattassa appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāyā’ti.
Yathā nāma, bhante nāgasena, issāso vā issāsantevāsī vā bahuke divase saṅgāmatthāya upāsanaṁ sikkhitvā sampatte mahāyuddhe osakkeyya;
evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācetvā mahato janakāyassa samuddharaṇāya sabbaññutaṁ pattena dhammadesanāya osakkitaṁ.
Yathā vā pana, bhante nāgasena, mallo vā mallantevāsī vā bahuke divase nibbuddhaṁ sikkhitvā sampatte mallayuddhe osakkeyya;
evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācetvā mahato janakāyassa samuddharaṇāya sabbaññutaṁ pattena dhammadesanāya osakkitaṁ.
Kiṁ nu kho, bhante nāgasena, tathāgatena bhayā osakkitaṁ, udāhu apākaṭatāya osakkitaṁ, udāhu dubbalatāya osakkitaṁ, udāhu asabbaññutāya osakkitaṁ, kiṁ tattha kāraṇaṁ, iṅgha me tvaṁ kāraṇaṁ brūhi kaṅkhāvitaraṇāya.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācitaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāya, tena hi ‘sabbaññutaṁ pattassa appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāyā’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi sabbaññutaṁ pattassa appossukkatāya cittaṁ nami no dhammadesanāya, tena hi ‘tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācitaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāyā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho gambhīro dunnibbeṭho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Paripācitañca, mahārāja, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāya, pattasabbaññutassa ca appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya.
Tañca pana dhammassa gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṁ sattānañca ālayārāmataṁ sakkāyadiṭṭhiyā daḷhasuggahitatañca disvā ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho’ti appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya, sattānaṁ paṭivedhacintanamānasaṁ yevetaṁ.
Yathā, mahārāja, bhisakko sallakatto anekabyādhiparipīḷitaṁ naraṁ upasaṅkamitvā evaṁ cintayati ‘kena nu kho upakkamena katamena vā bhesajjena imassa byādhi vūpasameyyā’ti;
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa sabbakilesabyādhiparipīḷitaṁ janaṁ dhammassa ca gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṁ disvā ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho’ti appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya, sattānaṁ paṭivedhacintanamānasaṁ yevetaṁ.
Yathā, mahārāja, rañño khattiyassa muddhāvasittassa dovārikaanīkaṭṭhapārisajjanegamabhaṭabalaamaccarājaññarājūpajīvine jane disvā evaṁ cittamuppajjeyya ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho ime saṅgaṇhissāmī’ti;
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa dhammassa gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṁ sattānañca ālayārāmataṁ sakkāyadiṭṭhiyā daḷhasuggahitatañca disvā ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho’ti appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya, sattānaṁ paṭivedhacintanamānasaṁ yevetaṁ.
Api ca, mahārāja, sabbesaṁ tathāgatānaṁ dhammatā esā, yaṁ brahmunā āyācitā dhammaṁ desenti.
Tattha pana kiṅkāraṇaṁ?
Ye tena samayena manussā tāpasaparibbājakā samaṇabrāhmaṇā, sabbete brahmadevatā honti brahmagarukā brahmaparāyaṇā, tasmā tassa balavato yasavato ñātassa paññātassa uttarassa accuggatassa onamanena sadevako loko onamissati okappessati adhimuccissatīti iminā ca, mahārāja, kāraṇena tathāgatā brahmunā āyācitā dhammaṁ desenti.
Yathā, mahārāja, koci rājā vā rājamahāmatto vā yassa onamati apacitiṁ karoti, balavatarassa tassa onamanena avasesā janatā onamati apacitiṁ karoti;
evameva kho, mahārāja, brahme onamite tathāgatānaṁ sadevako loko onamissati, pūjitapūjako, mahārāja, loko, tasmā so brahmā sabbesaṁ tathāgatānaṁ āyācati dhammadesanāya, tena ca kāraṇena tathāgatā brahmunā āyācitā dhammaṁ desentī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho, atibhadrakaṁ veyyākaraṇaṁ, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Dhammadesanāya appossukkapañho dasamo.
PTS cs 35 ‘Venerable Nāgasena, your people say:
“The Tathāgata gradually, through millions of years, through aeon after aeon, brought his omniscient wisdom to perfection for the sake of the salvation of the great masses of the people.”
‘But on the other hand (they say):
“Just after he had attained to omniscience his PTS vp En 39 heart inclined, not to the proclamation of the Truth, but to rest in peace.”
‘So that, Nāgasena, just as if an archer, or an archer’s pupil, who had practised archery for many days with the object of fighting, should, when the day of the great battle had come, draw back—just so did the Tathāgata, who through countless ages had gradually matured his omniscience for the sake of bringing safe to the shore (of salvation) the great masses of the people, turn back, on the day when that omniscience had been reached, from proclaiming the Truth. just as if a wrestler who through many days had practised wrestling should, when the day of the wrestling match had come, draw back—just so did the Tathāgata, who through countless ages had gradually matured his omniscience for the sake of bringing safe to the shore (of salvation) the great masses of the people, turn back, on the day when that omniscience had been reached, from proclaiming the Truth.
‘Now was it from fear, Nāgasena, that the Tathāgata drew back, or was it from inability to preach, or was it from weakness, or was it because he had not, after all, attained to omniscience? PTS vp Pali 233 What was the reason of this? Tell me, I pray, the reason, that my doubts may be removed. For if for so long a time he had perfected his wisdom with the object of saving the people, then the statement that he hesitated to announce the Truth must be wrong. But if that be true, then the other statement must be false. This too is a double-edged problem, PTS vp En 40 now put to you—a problem profound, a knot hard to unravel—which you have to solve.’
PTS cs 36 ‘The statements in both the passages you quote, O king, are correct. But that his heart inclined, not to the preaching of the truth, but to inaction, was because he saw, on the one hand, how profound and abstruse was the Doctrine, how hard to grasp and understand, how subtle, how difficult to penetrate into; and, on the other, how devoted beings are to the satisfaction of their lusts, how firmly possessed by false notions of Individualism. And so (he wavered) at the thought: “Whom shall I teach? And how can I teach him?"—his mind being directed to the idea of the powers of penetration which beings possessed.
‘Just, O king, as an able physician, when called in to a patient suffering from a complication of diseases, might reflect: “What can be the treatment, what the drug, by which this man’s sickness can be allayed?"—just so, O king, when the Tathāgata called to mind how afflicted were the people by all the kinds of malady which arise from sin, and how profound and abstruse was the Doctrine, how subtle, and how difficult to grasp, then at the thought: “Whom can I teach? And how shall I teach him?” did his heart incline rather to inaction than to preaching—PTS vp Pali 234 his mind being directed to the powers of penetration which beings possessed.
‘And just, O king, as a king, of royal blood, an anointed monarch, when he calls to mind the many PTS vp En 41 people who gain their livelihood in dependence on the king—the sentries and the body-guard, the retinue of courtiers, the trading folk, the soldiers and the royal messengers, the ministers and the nobles —might be exercised at the thought: “How now, in what way, shall I be able to conciliate them all?"—just so when the Tathāgata called to mind how profound and abstruse was the Doctrine, how subtle, and how difficult to grasp, and how devoted beings were to the satisfaction of their lusts, how firmly possessed by false notions of Individualism, then at the thought: “Whom shall I teach? And how shall I teach him?” did his heart incline rather to inaction than to preaching—his mind being directed to the powers of penetration which beings possessed.
PTS cs 37 ‘And this, too, is an inherent necessity in all Tathāgatas that it should be on the request of Brahmā that they should proclaim the Dhamma. And what is the reason for that? All men in those times, with the ascetics and the monks, the wandering teachers and the Brahmans, were worshippers of Brahmā, reverers of Brahmā, placed their reliance on Brahmā. And therefore, at the thought: “When so powerful and glorious, so famous and renowned, so high and mighty a one has shown himself inclined (to the Dhamma), then will the whole world of gods and men become inclined to it, hold it fitting, have faith in it"—on this ground, O king, the Tathāgatas preached the Dhamma when requested to do so by Brahmā. For just, O king, as what a sovran or a minister of state shows homage to, or offers worship to, that will the rest of mankind, on PTS vp En 42 The ground of the homage of so powerful a personage, show homage to and worship—just so, O king, when Brahmā had paid homage to the Tathāgatas, so would the whole world of gods and men. For the world, O king, is a reverer of what is revered. And that is why Brahmā asks of all Tathāgatas that they should make known the Doctrine, and why, on so being asked, they make it known.’
‘Very good, Nāgasena! the puzzle has been well unravelled, most able has been your exposition. That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to the Buddha’s hesitation to make the Doctrine known.
Here ends the Fifth Chapter.
‘Then shall they preach to him the Truth,
The Truth dispelling every grief,
Which Truth when here a man perceives,
He’s freed from stains, and dies away.’
PTS vp En 43 TRONG VIỆC THUYẾT GIẢNG GIÁO PHÁP
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng.’ Và thêm nữa: ‘Tâm của vị đạt đến phẩm vị Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp.’
Thưa ngài Nāgasena, giống như viên xạ thủ, hoặc các học trò của viên xạ thủ, sau khi học tập thuật bắn cung vì mục đích chiến trận trong nhiều ngày, đến khi cuộc chiến đấu lớn xảy ra thì có thể thối lui. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng, nhưng khi đã đạt đến phẩm vị Toàn Tri thì Ngài đã thối lui trong việc thuyết giảng Giáo Pháp.
Thưa ngài Nāgasena, hoặc là giống như người võ sĩ đấu vật, hoặc các học trò của người võ sĩ đấu vật, sau khi học tập thuật đấu vật trong nhiều ngày, đến khi trận đấu lớn xảy ra thì có thể thối lui. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng, nhưng khi đã đạt đến phẩm vị Toàn Tri thì Ngài đã thối lui trong việc thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 2Thưa ngài Nāgasena, phải chăng đức Như Lai đã thối lui vì sợ hãi? Hay đã thối lui vì chưa được rành rẽ? Hay đã thối lui vì năng lực yếu kém? Hay đã thối lui vì chưa phải phẩm vị Toàn Tri? Ở đây, điều gì là lý do? Nào, xin ngài hãy nói cho trẫm lý do nhằm vượt qua nỗi nghi hoặc.
Thưa ngài Nāgasena, nếu trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng, như thế thì lời nói rằng: ‘Tâm của vị đạt đến phẩm vị Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp’ là sai trái. Nếu tâm của vị đạt đến phẩm vị Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp, như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, thâm sâu, khó tháo gỡ, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 3“Tâu đại vương, trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, trí Toàn Tri đã được đức Như Lai làm cho chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng. Và tâm của vị đạt đến trí Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Vả lại, sau khi nhìn thấy tính chất thâm sâu, khôn khéo, khó thấy, khó giác ngộ, tinh vi, khó thấu triệt của Giáo Pháp, trạng thái ham thích tiềm ẩn của chúng sanh, và tính chất bám víu cứng nhắc vào quan điểm của chính mình, (thì nghĩ rằng): ‘(Thuyết giảng) về cái gì? Bằng cách nào?’ và tâm đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Điều này chính là sự suy nghĩ và tâm ý về việc giác ngộ của chúng sanh.
Tâu đại vương, giống như người thầy thuốc phẫu thuật, sau khi đi đến gặp người bị hành hạ bởi nhiều căn bệnh, thì suy nghĩ như vầy: ‘Bằng cách thức gì, hoặc với phương thuốc nào thì căn bệnh của người này có thể được lắng xuống?’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai, sau khi nhìn thấy loài người bị hành hạ bởi mọi căn bệnh phiền não và tính chất thâm sâu, khôn khéo, khó thấy, khó giác ngộ, tinh vi, khó thấu triệt của Giáo Pháp, (thì nghĩ rằng): ‘(Thuyết giảng) về cái gì? Bằng cách nào?’ và tâm đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Điều này chính là sự suy nghĩ và tâm ý về việc giác ngộ của chúng sanh.
BJT 4Tâu đại vương, giống như đối với đức vua dòng Sát-đế-lỵ đã được rưới nước thơm ở đầu (làm lễ phong vương), sau khi nhìn thấy những người giữ cổng, lính gác, quần thần, thị dân, nhân công, binh lính, quan đại thần, hoàng tộc, và thuộc hạ thì có thể khởi tâm như vầy: ‘Trẫm sẽ hậu đãi cái gì cho những người này? Bằng cách nào?’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai, sau khi nhìn thấy tính chất thâm sâu, khôn khéo, khó thấy, khó giác ngộ, tinh vi, khó thấu triệt của Giáo Pháp, trạng thái ham thích tiềm ẩn của chúng sanh, và tính chất bám víu cứng nhắc vào quan điểm của chính mình, (thì nghĩ rằng): ‘(Thuyết giảng) về cái gì? Bằng cách nào?’ và tâm đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Sự suy nghĩ và tâm ý về việc giác ngộ của chúng sanh chính là điều này.
BJT 5Tâu đại vương, thêm nữa điều này là quy luật của các đức Như Lai, là việc các Ngài thuyết giảng Giáo Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu. Vậy trong trường hợp ấy, điều gì là lý do? Vào lúc bấy giờ, tất cả các vị đạo sĩ khổ hạnh, du sĩ, Sa-môn, Bà-la-môn là những người thờ phụng đấng Brahmā, kính trọng đấng Brahmā, nương tựa đấng Brahmā. Do đó, (nghĩ rằng): ‘Với sự hạ mình của vị (Brahmā) có năng lực, có danh vọng, được biết tiếng, được nổi tiếng, hơn hẳn, được vượt trội ấy, thì thế gian luôn cả chư Thiên sẽ hạ mình, sẽ tin tưởng, sẽ quy thuận (Ta).’ Tâu đại vương, và vì lý do này mà đức Như Lai thuyết giảng Giáo Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu.
Tâu đại vương, giống như vị vua nào đó, hoặc quan đại thần của vị vua, hạ mình, thể hiện sự cung kính đối với người nào, do sự hạ mình của vị ấy đối với người có năng lực trội hơn, mà số dân chúng còn lại hạ mình, thể hiện sự cung kính. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi Phạm Thiên hạ mình đối với các đức Như Lai thì thế gian luôn cả chư Thiên sẽ hạ mình. Tâu đại vương, thế gian tôn vinh bậc đã được tôn vinh. Do đó, vị Phạm Thiên ấy thỉnh cầu tất cả các đức Như Lai về việc thuyết giảng Giáo Pháp. Và vì lý do ấy, các đức Như Lai thuyết giảng Giáo Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ, việc giải thích thật là tuyệt hảo. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về trạng thái không nỗ lực
trong việc thuyết giảng Giáo Pháp của đức Thế Tôn là thứ mười.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācitaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāyā’ti.
Puna ca ‘sabbaññutaṁ pattassa appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāyā’ti.
Yathā nāma, bhante nāgasena, issāso vā issāsantevāsī vā bahuke divase saṅgāmatthāya upāsanaṁ sikkhitvā sampatte mahāyuddhe osakkeyya;
evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācetvā mahato janakāyassa samuddharaṇāya sabbaññutaṁ pattena dhammadesanāya osakkitaṁ.
Yathā vā pana, bhante nāgasena, mallo vā mallantevāsī vā bahuke divase nibbuddhaṁ sikkhitvā sampatte mallayuddhe osakkeyya;
evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācetvā mahato janakāyassa samuddharaṇāya sabbaññutaṁ pattena dhammadesanāya osakkitaṁ.
Kiṁ nu kho, bhante nāgasena, tathāgatena bhayā osakkitaṁ, udāhu apākaṭatāya osakkitaṁ, udāhu dubbalatāya osakkitaṁ, udāhu asabbaññutāya osakkitaṁ, kiṁ tattha kāraṇaṁ, iṅgha me tvaṁ kāraṇaṁ brūhi kaṅkhāvitaraṇāya.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācitaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāya, tena hi ‘sabbaññutaṁ pattassa appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāyā’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi sabbaññutaṁ pattassa appossukkatāya cittaṁ nami no dhammadesanāya, tena hi ‘tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācitaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāyā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho gambhīro dunnibbeṭho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Paripācitañca, mahārāja, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāya, pattasabbaññutassa ca appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya.
Tañca pana dhammassa gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṁ sattānañca ālayārāmataṁ sakkāyadiṭṭhiyā daḷhasuggahitatañca disvā ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho’ti appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya, sattānaṁ paṭivedhacintanamānasaṁ yevetaṁ.
Yathā, mahārāja, bhisakko sallakatto anekabyādhiparipīḷitaṁ naraṁ upasaṅkamitvā evaṁ cintayati ‘kena nu kho upakkamena katamena vā bhesajjena imassa byādhi vūpasameyyā’ti;
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa sabbakilesabyādhiparipīḷitaṁ janaṁ dhammassa ca gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṁ disvā ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho’ti appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya, sattānaṁ paṭivedhacintanamānasaṁ yevetaṁ.
Yathā, mahārāja, rañño khattiyassa muddhāvasittassa dovārikaanīkaṭṭhapārisajjanegamabhaṭabalaamaccarājaññarājūpajīvine jane disvā evaṁ cittamuppajjeyya ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho ime saṅgaṇhissāmī’ti;
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa dhammassa gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṁ sattānañca ālayārāmataṁ sakkāyadiṭṭhiyā daḷhasuggahitatañca disvā ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho’ti appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya, sattānaṁ paṭivedhacintanamānasaṁ yevetaṁ.
Api ca, mahārāja, sabbesaṁ tathāgatānaṁ dhammatā esā, yaṁ brahmunā āyācitā dhammaṁ desenti.
Tattha pana kiṅkāraṇaṁ?
Ye tena samayena manussā tāpasaparibbājakā samaṇabrāhmaṇā, sabbete brahmadevatā honti brahmagarukā brahmaparāyaṇā, tasmā tassa balavato yasavato ñātassa paññātassa uttarassa accuggatassa onamanena sadevako loko onamissati okappessati adhimuccissatīti iminā ca, mahārāja, kāraṇena tathāgatā brahmunā āyācitā dhammaṁ desenti.
Yathā, mahārāja, koci rājā vā rājamahāmatto vā yassa onamati apacitiṁ karoti, balavatarassa tassa onamanena avasesā janatā onamati apacitiṁ karoti;
evameva kho, mahārāja, brahme onamite tathāgatānaṁ sadevako loko onamissati, pūjitapūjako, mahārāja, loko, tasmā so brahmā sabbesaṁ tathāgatānaṁ āyācati dhammadesanāya, tena ca kāraṇena tathāgatā brahmunā āyācitā dhammaṁ desentī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho, atibhadrakaṁ veyyākaraṇaṁ, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Dhammadesanāya appossukkapañho dasamo.