BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’
Và thêm nữa, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa.’
Tâu đại vương, điều mà đức Thế Tôn đã nói là: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử,’ điều ấy là lời nói về bản thể, là lời nói không thiếu sót, là lời nói đầy đủ, là lời nói không thay đổi, là lời nói về sự thật, là lời nói đúng sự thật, là lời nói chính xác, là lời nói không sái quấy, là lời nói của bậc ẩn sĩ, là lời nói của bậc hiền triết, là lời nói của đức Thế Tôn, là lời nói của vị A-la-hán, là lời nói của vị Phật Độc Giác, là lời nói của đấng Chiến Thắng, là lời nói của đấng Toàn Tri, là lời nói của đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác.
Tâu đại vương, người không hạn chế ở bao tử giết hại mạng sống, lấy vật không cho, đi đến vợ người khác, nói lời dối trá, uống chất say, đoạt mạng sống của mẹ, đoạt mạng sống của cha, đoạt mạng sống của vị A-la-hán, chia rẽ Hội Chúng, làm chảy máu đức Như Lai với tâm ác xấu. Tâu đại vương, chẳng phải Devadatta, kẻ không hạn chế ở bao tử, đã chia rẽ Hội Chúng và đã gây nên nghiệp kéo dài một kiếp (trái đất). Tâu đại vương, sau khi nhìn thấy các lý do khác, nhiều loại, có hình thức như thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’
BJT 3Tâu đại vương, người hạn chế ở bao tử lãnh hội được sự lãnh hội về bốn Sự Thật, chứng ngộ bốn quả vị Sa-môn, đạt được bản thể năng lực về bốn tuệ Phân Tích, về tám Thiền Chứng, về sáu Thắng Trí, và làm tròn đủ toàn bộ phận sự của Sa-môn. Tâu đại vương, chẳng phải con bồ câu xinh, sau khi hạn chế ở bao tử, đã làm rung động đến tận cung Trời Đạo Lợi và đã khiến cho Sakka, Chúa của chư Thiên, phải đi đến chăm sóc. Tâu đại vương, sau khi nhìn thấy các lý do khác, nhiều loại, có hình thức như thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’
Tâu đại vương, trái lại về điều đã được đức Thế Tôn nói là: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa,’ điều ấy đã được đấng Toàn Tri, bậc Tự Chủ, đức Như Lai, vị có phận sự đã làm xong, có công việc đã hoàn thành, có mục đích đã được thành tựu, có nhiệm vụ đã hoàn mãn, không còn chướng ngại, nói về bản thân Ngài.
Tâu đại vương, giống như đối với người bị bệnh cần được ói ra, cần được xổ, cần phải thải độc, thì công việc chăm sóc là cần thiết, tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người còn phiền não, chưa thấy được Sự Thật, thì việc hạn chế ở bao tử là việc nên làm. Tâu đại vương, giống như đối với viên ngọc quý ma-ni có hào quang, nguyên chất, có phẩm chất cao và hoàn toàn tinh khiết thì không có việc cần phải chùi mài, chà xát, đánh bóng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai, vị đã đi đến sự toàn hảo trong cương vị của một bậc Giác Ngộ, thì không có sự trở ngại trong các hành động và việc làm.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc hạn chế bao tử là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Uttiṭṭhe nappamajjeyya,
udare saṁyato siyā’ti.
Puna ca bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘ahaṁ kho panudāyi, appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti, tena hi ‘ahaṁ kho panudāyi, appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘ahaṁ kho panudāyi, appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti, tena hi ‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti, bhaṇitañca—
‘ahaṁ kho panudāyi, appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti.
Yaṁ, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti, taṁ sabhāvavacanaṁ asesavacanaṁ nissesavacanaṁ nippariyāyavacanaṁ bhūtavacanaṁ tacchavacanaṁ yāthāvavacanaṁ aviparītavacanaṁ isivacanaṁ munivacanaṁ bhagavantavacanaṁ arahantavacanaṁ paccekabuddhavacanaṁ jinavacanaṁ sabbaññuvacanaṁ tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa vacanaṁ.
Udare asaṁyato, mahārāja, pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, majjampi pivati, mātarampi jīvitā voropeti, pitarampi jīvitā voropeti, arahantampi jīvitā voropeti, saṅghampi bhindati, duṭṭhena cittena tathāgatassa lohitampi uppādeti.
Nanu, mahārāja, devadatto udare asaṁyato saṅghaṁ bhinditvā kappaṭṭhiyaṁ kammaṁ āyūhi.
Evarūpāni, mahārāja, aññānipi bahuvidhāni kāraṇāni disvā bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti.
Udare saṁyato, mahārāja, catusaccābhisamayaṁ abhisameti, cattāri sāmaññaphalāni sacchikaroti, catūsu paṭisambhidāsu aṭṭhasu samāpattīsu chasu abhiññāsu vasībhāvaṁ pāpuṇāti, kevalañca samaṇadhammaṁ pūreti.
Nanu, mahārāja, sukapotako udare saṁyato hutvā yāva tāvatiṁsabhavanaṁ kampetvā sakkaṁ devānamindaṁ upaṭṭhānamupanesi, evarūpāni, mahārāja, aññānipi bahuvidhāni kāraṇāni disvā bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti.
Yaṁ pana, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘ahaṁ kho panudāyi appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti, taṁ katakiccena niṭṭhitakiriyena siddhatthena vusitavosānena nirāvaraṇena sabbaññunā sayambhunā tathāgatena attānaṁ upādāya bhaṇitaṁ.
Yathā, mahārāja, vantassa virittassa anuvāsitassa āturassa sappāyakiriyā icchitabbā hoti;
evameva kho, mahārāja, sakilesassa adiṭṭhasaccassa udare saṁyamo karaṇīyo hoti.
Yathā, mahārāja, maṇiratanassa sappabhāsassa jātimantassa abhijātiparisuddhassa majjananighaṁsanaparisodhanena karaṇīyaṁ na hoti;
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa buddhavisaye pāramiṁ gatassa kiriyākaraṇesu āvaraṇaṁ na hotī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Udarasaṁyatapañho dutiyo.
PTS cs 4 ‘Venerable Nāgasena, the Blessed One said:
“Be not remiss as to (the rules to be observed) when standing up (to beg for food). Be restrained in (matters relating to) the stomach.”
But on the other hand he said:
Now there were several days, Udāyin, on which I ate out of this bowl when it was full to the brim, and ate even more.”
‘Now if the first rule be true, then the second statement must be false. But if the statement be true, then the rule first quoted must be wrong.
. PTS vp En 5 This too is a double-edged problem, now put to you, which you have to solve.’
PTS cs 5 ‘Both the passages you have quoted, O king, were spoken by the Blessed One. But the former passage PTS vp Pali 214 is a statement as to the nature of things, an inclusive statement, a statement which leaves no room for anything to be supplemented to it, or added to it in the way of gloss, a statement of what is true and real and in accordance with the facts, and that cannot be proved wrong, a declaration made by the prophets, and sages, and teachers, and Arahats, and by the Buddhas who are wise for themselves alone (Pacceka-Buddhas), a declaration made by the Conquerors, and by the All-wise Ones, a declaration made too by the Tathāgata, the Arahat, the Supreme Buddha himself. He who has no self-control as regards the stomach, O king, will destroy living creatures, will take possession of what has not been given to him, will be unchaste, will speak lies, will drink strong drink, will put his mother or his father to death, will slay an Arahat, will create a schism in the Order, will even with malice aforethought wound a Tathāgata. Was it not, O king, when without restraint as to his stomach, that Devadatta by breaking up the Order, heaped up for himself karma that would endure for a kalpa ? It was on calling to mind this, O king, and many other things of the same kind, that the Blessed One declared:
Be not remiss as to (the rules to be observed) PTS vp En 6 when standing up (to beg for food). Be restrained in (matters relating to) the stomach.”
PTS cs 6 ‘And he who has self-control as regards the stomach gains a clear insight into the Four Truths, realises the Four Fruits of the life of renunciation, and attains to mastery over the Four Discriminations, the Eight Attainments, and the Six Modes of Higher Knowledge, and fulfils all that goes to constitute the life of the recluse. Did not the parrot fledgling, O king, by self-restraint as to his stomach, cause the very heaven of the great Thirty-Three to shake, and bring down Sakka, the king of the gods, to wait upon him ? It was on calling to mind this, O king, and many other things of a similar kind, that the Blessed One declared:
“Be not remiss as to (the rules to be observed) when standing up (to beg for food). Be restrained in (matters relating to) the stomach.”
PTS cs 7 ‘But when, O king, the Blessed One said: “Now there were several days, Udāyi, on which I ate out of this bowl when it was full to the brim, and ate even more,” that was said by him who had completed his task, who had finished all that he had to do, who had accomplished the end he set before him, who had overcome every obstruction, by the self-dependent Tathāgata himself about himself. PTS vp En 7 Just, O king, as it is desirable that a sick man to whom an emetic, or a purge, or a clyster has been administered, should be treated with a tonic; PTS vp Pali 215 just so, O king, should the man who is full of evil, and who has not perceived the Four Truths, adopt the practice of restraint in the matter of eating. But just, O king, as there is no necessity of polishing, and rubbing down, and purifying a diamond gem of great brilliancy, of the finest water, and of natural purity; just so, O king, is there no restraint as to what actions he should perform, on the Tathāgata, on him who hath attained to perfection in all that lies within the scope of a Buddha.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
[Here ends the dilemma as to restraint in eating.] PTS vp En 8
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’
Và thêm nữa, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa.’
Tâu đại vương, điều mà đức Thế Tôn đã nói là: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử,’ điều ấy là lời nói về bản thể, là lời nói không thiếu sót, là lời nói đầy đủ, là lời nói không thay đổi, là lời nói về sự thật, là lời nói đúng sự thật, là lời nói chính xác, là lời nói không sái quấy, là lời nói của bậc ẩn sĩ, là lời nói của bậc hiền triết, là lời nói của đức Thế Tôn, là lời nói của vị A-la-hán, là lời nói của vị Phật Độc Giác, là lời nói của đấng Chiến Thắng, là lời nói của đấng Toàn Tri, là lời nói của đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác.
Tâu đại vương, người không hạn chế ở bao tử giết hại mạng sống, lấy vật không cho, đi đến vợ người khác, nói lời dối trá, uống chất say, đoạt mạng sống của mẹ, đoạt mạng sống của cha, đoạt mạng sống của vị A-la-hán, chia rẽ Hội Chúng, làm chảy máu đức Như Lai với tâm ác xấu. Tâu đại vương, chẳng phải Devadatta, kẻ không hạn chế ở bao tử, đã chia rẽ Hội Chúng và đã gây nên nghiệp kéo dài một kiếp (trái đất). Tâu đại vương, sau khi nhìn thấy các lý do khác, nhiều loại, có hình thức như thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’
BJT 3Tâu đại vương, người hạn chế ở bao tử lãnh hội được sự lãnh hội về bốn Sự Thật, chứng ngộ bốn quả vị Sa-môn, đạt được bản thể năng lực về bốn tuệ Phân Tích, về tám Thiền Chứng, về sáu Thắng Trí, và làm tròn đủ toàn bộ phận sự của Sa-môn. Tâu đại vương, chẳng phải con bồ câu xinh, sau khi hạn chế ở bao tử, đã làm rung động đến tận cung Trời Đạo Lợi và đã khiến cho Sakka, Chúa của chư Thiên, phải đi đến chăm sóc. Tâu đại vương, sau khi nhìn thấy các lý do khác, nhiều loại, có hình thức như thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’
Tâu đại vương, trái lại về điều đã được đức Thế Tôn nói là: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa,’ điều ấy đã được đấng Toàn Tri, bậc Tự Chủ, đức Như Lai, vị có phận sự đã làm xong, có công việc đã hoàn thành, có mục đích đã được thành tựu, có nhiệm vụ đã hoàn mãn, không còn chướng ngại, nói về bản thân Ngài.
Tâu đại vương, giống như đối với người bị bệnh cần được ói ra, cần được xổ, cần phải thải độc, thì công việc chăm sóc là cần thiết, tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người còn phiền não, chưa thấy được Sự Thật, thì việc hạn chế ở bao tử là việc nên làm. Tâu đại vương, giống như đối với viên ngọc quý ma-ni có hào quang, nguyên chất, có phẩm chất cao và hoàn toàn tinh khiết thì không có việc cần phải chùi mài, chà xát, đánh bóng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai, vị đã đi đến sự toàn hảo trong cương vị của một bậc Giác Ngộ, thì không có sự trở ngại trong các hành động và việc làm.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc hạn chế bao tử là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Uttiṭṭhe nappamajjeyya,
udare saṁyato siyā’ti.
Puna ca bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘ahaṁ kho panudāyi, appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti, tena hi ‘ahaṁ kho panudāyi, appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘ahaṁ kho panudāyi, appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti, tena hi ‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti, bhaṇitañca—
‘ahaṁ kho panudāyi, appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti.
Yaṁ, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti, taṁ sabhāvavacanaṁ asesavacanaṁ nissesavacanaṁ nippariyāyavacanaṁ bhūtavacanaṁ tacchavacanaṁ yāthāvavacanaṁ aviparītavacanaṁ isivacanaṁ munivacanaṁ bhagavantavacanaṁ arahantavacanaṁ paccekabuddhavacanaṁ jinavacanaṁ sabbaññuvacanaṁ tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa vacanaṁ.
Udare asaṁyato, mahārāja, pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, majjampi pivati, mātarampi jīvitā voropeti, pitarampi jīvitā voropeti, arahantampi jīvitā voropeti, saṅghampi bhindati, duṭṭhena cittena tathāgatassa lohitampi uppādeti.
Nanu, mahārāja, devadatto udare asaṁyato saṅghaṁ bhinditvā kappaṭṭhiyaṁ kammaṁ āyūhi.
Evarūpāni, mahārāja, aññānipi bahuvidhāni kāraṇāni disvā bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti.
Udare saṁyato, mahārāja, catusaccābhisamayaṁ abhisameti, cattāri sāmaññaphalāni sacchikaroti, catūsu paṭisambhidāsu aṭṭhasu samāpattīsu chasu abhiññāsu vasībhāvaṁ pāpuṇāti, kevalañca samaṇadhammaṁ pūreti.
Nanu, mahārāja, sukapotako udare saṁyato hutvā yāva tāvatiṁsabhavanaṁ kampetvā sakkaṁ devānamindaṁ upaṭṭhānamupanesi, evarūpāni, mahārāja, aññānipi bahuvidhāni kāraṇāni disvā bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṁyato siyā’ti.
Yaṁ pana, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘ahaṁ kho panudāyi appekadā iminā pattena samatitthikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti, taṁ katakiccena niṭṭhitakiriyena siddhatthena vusitavosānena nirāvaraṇena sabbaññunā sayambhunā tathāgatena attānaṁ upādāya bhaṇitaṁ.
Yathā, mahārāja, vantassa virittassa anuvāsitassa āturassa sappāyakiriyā icchitabbā hoti;
evameva kho, mahārāja, sakilesassa adiṭṭhasaccassa udare saṁyamo karaṇīyo hoti.
Yathā, mahārāja, maṇiratanassa sappabhāsassa jātimantassa abhijātiparisuddhassa majjananighaṁsanaparisodhanena karaṇīyaṁ na hoti;
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa buddhavisaye pāramiṁ gatassa kiriyākaraṇesu āvaraṇaṁ na hotī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Udarasaṁyatapañho dutiyo.