BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Ta là đức vua Sela.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Ta là đức vua Sela’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Ta là đức vua Sela,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin’ cũng là sai trái. Bởi vì chỉ có thể hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn, nghĩa là không thể có hai giai cấp cho một lần sanh ra. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Ta là đức vua Sela.’ Ở đây có lý do, mà với lý do ấy đức Như Lai vừa là vị Bà-la-môn vừa là vua.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì lý do ấy là gì, mà với lý do ấy đức Như Lai vừa là vị Bà-la-môn vừa là vua?”
“Tâu đại vương, tất cả các ác bất thiện pháp của đức Như Lai đã được lánh xa, đã được dứt bỏ, đã được xa lìa, đã được dứt lìa, đã được chặt đứt, đã đi đến sự cạn kiệt, đã được diệt tắt, đã được an tịnh, vì thế đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là đã vượt qua sự nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng đã vượt qua sự nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là đã lìa khỏi tất cả các nguồn gốc đưa đến hữu và cảnh giới tái sanh, đã thoát ra khỏi việc bị dính líu đến ô nhiễm và bụi bặm, không có bạn đồng hành. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng đã lìa khỏi tất cả các nguồn gốc đưa đến hữu và cảnh giới tái sanh, đã thoát ra khỏi việc bị dính líu đến ô nhiễm và bụi bặm, không có bạn đồng hành. Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
BJT 3Bà-là-môn nghĩa là có nhiều sự an trú cao cả, tối thượng, cao quý, ưu tú thuộc về cõi trời. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng có nhiều sự an trú cao cả, tối thượng, cao quý, ưu tú thuộc về cõi trời. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là người duy trì dòng dõi về sự chỉ dạy và truyền thống trước đây về việc học thuộc lòng, giảng dạy, tiếp nhận vật thí, rèn luyện, thu thúc, và kiềm chế. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng là người duy trì dòng dõi về sự chỉ dạy và truyền thống đã được thực hành bởi các đấng Chiến Thắng trước đây về việc học thuộc lòng, giảng dạy, tiếp nhận vật thí, rèn luyện, thu thúc, và kiềm chế. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là vị có sự tham thiền về thiền có sự trú vào lạc bao la. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng là vị có sự tham thiền về thiền có sự trú vào lạc bao la. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là vị biết sự vận hành và chọn lựa việc tái sanh ở tất cả các cảnh giới hữu và phi hữu. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng là vị biết sự vận hành và chọn lựa việc tái sanh ở tất cả các cảnh giới hữu và phi hữu. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Tâu đại vương, tên gọi ‘Bà-là-môn’ này của đức Thế Tôn không do mẹ tạo ra, không do cha tạo ra, không do anh trai tạo ra, không do chị gái tạo ra, không do các bạn bè thân hữu tạo ra, không do các thân quyến cùng huyết thống tạo ra, không do các Sa-môn và Bà-la-môn tạo ra, không do chư Thiên tạo ra. Tên gọi này của chư Phật Thế Tôn liên quan đến mốc cuối cùng của sự giải thoát, cùng với sự đạt được trí Toàn Tri sau khi tiêu diệt đạo binh của Ma Vương ở ngay dưới cội cây Bồ Đề, sau khi lánh xa các ác bất thiện pháp thuộc quá khứ, hiện tại, và vị lai, là sự xác định thực tế về việc đã đạt được, đã được hiển lộ, đã được sanh khởi, tức là ‘Bà-là-môn.’ Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì với lý do gì đức Như Lai được gọi là ‘Vua’?”
“Tâu đại vương, vua nghĩa là người nào cai trị vương quốc, chỉ dạy thế gian. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng cai trị vương quốc bằng Giáo Pháp ở mười ngàn thế giới, chỉ dạy thế gian tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến loài người luôn cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là sau khi chế ngự toàn bộ dân chúng loài người, trong khi làm hoan hỷ tập thể thân quyến, trong khi gây sầu muộn cho tập thể kẻ thù, rồi cho giương lên chiếc lọng che màu trắng tinh khiết là vật đem lại danh vọng và vinh quang lớn lao vĩ đại, có thanh cầm bằng lõi cây cứng chắc, được trang hoàng với một trăm thanh nan không thiếu sót. Tâu đại vương, đức Thế Tôn trong khi gây sầu muộn cho đội binh của Ma Vương có sự thực hành sai trái, trong khi làm hoan hỷ chư thiên và nhân loại có sự thực hành đúng đắn, cũng cho giương lên ở mười ngàn thế giới chiếc lọng che màu trắng tinh khiết của sự giải thoát cao cả quý báu, là vật đem lại danh vọng và vinh quang lớn lao vĩ đại, có thanh cầm bằng lõi cây cứng chắc là sự nhẫn nại, được trang hoàng với một trăm thanh nan trí tuệ cao quý. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là vị đáng được đảnh lễ bởi số đông dân chúng đã đi đến và gặp gỡ. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng là vị đáng được đảnh lễ bởi số đông chư Thiên và nhân loại đã đi đến và gặp gỡ. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là đối với người nào có sự ra sức thì tin tưởng, ban cho ân huệ đã chọn lựa, và làm thỏa mãn theo như ước muốn. Tâu đại vương, đức Thế Tôn đối với người nào có sự ra sức về thân, về khẩu, về ý, thì cũng tin tưởng, ban cho ân huệ vô thượng đã chọn lựa là sự giải thoát hoàn toàn mọi sự khổ đau, và làm thỏa mãn trọn vẹn ân huệ theo như ước muốn. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là đối với kẻ chống lại mệnh lệnh thì quở trách, loại trừ, tiêu diệt. Tâu đại vương, trong Giáo Pháp cao quý của đức Thế Tôn, kẻ vô liêm sỉ vượt qua sự quy định cũng bị chê bai, khinh miệt, khiển trách vì tình trạng yếu hèn và bị loại ra khỏi Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là sau khi giảng giải về đúng pháp và sai pháp theo truyền thống và sự chỉ dạy của các vị vua chính trực trước đây, trong khi cai quản vương quốc một cách chính trực thì trở thành vị được ước muốn, được yêu mến, được mong cầu đối với dân chúng và loài người, rồi duy trì dòng dõi hoàng tộc lâu dài nhờ vào năng lực và ân đức của sự chính trực. Tâu đại vương, đức Thế Tôn sau khi cũng giảng giải về đúng pháp và sai pháp theo truyền thống và sự chỉ dạy của các đấng Tự Chủ trước đây, trong khi chỉ dạy thế gian đúng theo Pháp thì sẽ trở thành vị được ước muốn, được yêu mến, được mong cầu đối với chư Thiên và nhân loại, rồi chuyển vận Giáo Pháp lâu dài nhờ vào năng lực và ân đức của Pháp bảo. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, như vậy lý do có nhiều loại, mà với lý do ấy đức Như Lai có thể vừa là Bà-la-môn có thể vừa là vua. Vị tỳ khưu vô cùng khôn khéo cũng không có thể thành tựu được việc ấy cho dầu là một kiếp. Có ích gì với việc nói quá nhiều, điều khái quát nên được chấp nhận.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về lời nói là Bà-la-môn và là vua là thứ tám.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ tathāgatena ‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘rājāhamasmi selā’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti, tena hi ‘rājāhamasmi selā’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘rājāhamasmi selā’ti, tena hi ‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti tampi vacanaṁ micchā.
Khattiyo vā hi bhaveyya brāhmaṇo vā, natthi ekāya jātiyā dve vaṇṇā nāma, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti, puna ca bhaṇitaṁ—
‘rājāhamasmi selā’ti, tattha kāraṇaṁ atthi, yena kāraṇena tathāgato brāhmaṇo ca rājā ca hotī”ti.
“Kiṁ pana taṁ, bhante nāgasena, kāraṇaṁ, yena kāraṇena tathāgato brāhmaṇo ca rājā ca hoti”?
“Sabbe, mahārāja, pāpakā akusalā dhammā tathāgatassa bāhitā pahīnā apagatā byapagatā ucchinnā khīṇā khayaṁ pattā nibbutā upasantā, tasmā tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma saṁsayamanekaṁsaṁ vimatipathaṁ vītivatto, bhagavāpi, mahārāja, saṁsayamanekaṁsaṁ vimatipathaṁ vītivatto, tena kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma sabbabhavagatiyoninissaṭo malarajagatavippamutto asahāyo, bhagavāpi, mahārāja, sabbabhavagatiyoninissaṭo malarajagatavippamutto asahāyo, tena kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma aggaseṭṭhavarapavaradibbavihārabahulo, bhagavāpi, mahārāja, aggaseṭṭhavarapavaradibbavihārabahulo, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma ajjhayanaajjhāpanadānappaṭiggahaṇadamasaṁyamaniyamapubbamanusiṭṭhipaveṇivaṁsadharaṇo, bhagavāpi, mahārāja, ajjhayanaajjhāpanadānappaṭiggahaṇadamasaṁyamaniyamapubbajināciṇṇaanusiṭṭhipaveṇivaṁsadharaṇo, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma brahāsukhavihārajjhānajhāyī;
bhagavāpi, mahārāja, brahāsukhavihārajjhānajhāyī, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma sabbabhavābhavagatīsu abhijātivattitamanucaritaṁ jānāti, bhagavāpi, mahārāja, sabbabhavābhavagatīsu abhijātivattitamanucaritaṁ jānāti, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇoti, mahārāja, bhagavato netaṁ nāmaṁ mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, vimokkhantikametaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ nāmaṁ bodhiyāyeva mūle mārasenaṁ vidhamitvā atītānāgatapaccuppanne pāpake akusale dhamme bāhetvā saha sabbaññutañāṇassa paṭilābhā paṭiladdhapātubhūtasamuppannamatte sacchikā paññatti yadidaṁ brāhmaṇoti, tena kāraṇena tathāgato vuccati ‘brāhmaṇo’”ti.
“Kena pana, bhante nāgasena, kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’”ti?
“Rājā nāma, mahārāja, yo koci rajjaṁ kāreti lokamanusāsati, bhagavāpi, mahārāja, dasasahassiyā lokadhātuyā dhammena rajjaṁ kāreti, sadevakaṁ lokaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ anusāsati, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma, mahārāja, sabbajanamanusse abhibhavitvā nandayanto ñātisaṅghaṁ, socayanto amittasaṅghaṁ, mahatimahāyasasiriharaṁ thirasāradaṇḍaṁ anūnasatasalākālaṅkataṁ ussāpeti paṇḍaravimalasetacchattaṁ, bhagavāpi, mahārāja, socayanto mārasenaṁ micchāpaṭipannaṁ, nandayanto devamanusse sammāpaṭipanne dasasahassiyā lokadhātuyā mahatimahāyasasiriharaṁ khantithirasāradaṇḍaṁ ñāṇavarasatasalākālaṅkataṁ ussāpeti aggavaravimuttipaṇḍaravimalasetacchattaṁ, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma upagatasampattajanānaṁ bahūnamabhivandanīyo bhavati, bhagavāpi, mahārāja, upagatasampattadevamanussānaṁ bahūnamabhivandanīyo, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma yassa kassaci ārādhakassa pasīditvā varitaṁ varaṁ datvā kāmena tappayati, bhagavāpi, mahārāja, yassa kassaci kāyena vācāya manasā ārādhakassa pasīditvā varitaṁ varamanuttaraṁ sabbadukkhaparimuttiṁ datvā asesakāmavarena ca tappayati, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma āṇaṁ vītikkamantaṁ vigarahati jhāpeti dhaṁseti, bhagavatopi, mahārāja, sāsanavare āṇaṁ atikkamanto alajjī maṅkubhāvena oññāto hīḷito garahito bhavitvā vajjati jinasāsanavaramhā, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma pubbakānaṁ dhammikānaṁ rājūnaṁ paveṇimanusiṭṭhiyā dhammādhammamanudīpayitvā dhammena rajjaṁ kārayamāno pihayito piyo patthito bhavati janamanussānaṁ, ciraṁ rājakulavaṁsaṁ ṭhapayati dhammaguṇabalena, bhagavāpi, mahārāja, pubbakānaṁ sayambhūnaṁ paveṇimanusiṭṭhiyā dhammādhammamanudīpayitvā dhammena lokamanusāsamāno pihayito piyo patthito devamanussānaṁ ciraṁ sāsanaṁ pavatteti dhammaguṇabalena, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Evamanekavidhaṁ, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena tathāgato brāhmaṇopi bhaveyya rājāpi bhaveyya, sunipuṇo bhikkhu kappampi no naṁ sampādeyya, kiṁ atibahuṁ bhaṇitena, saṅkhittaṁ sampaṭicchitabban”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Brāhmaṇarājavādapañho aṭṭhamo.
PTS vp Pali 225 PTS cs 25 ‘Venerable Nāgasena, this too was said by the Blessed One:
“A Brahman am I, O brethren, devoted to self-sacrifice.”
‘But on the other hand he declared:
“A king am I, Sela.”
‘If, Nāgasena, the Blessed One were a Brahman, then he must have spoken falsely when he said he was a king. But if he were a king, then he must have spoken falsely when he said he was a Brahman. He must have been either a Khattiya or a Brahman. For he could not have belonged, in the same birth, to two castes. This too is a double-edged problem, now put to you, which you have to solve.’ PTS vp En 26
PTS cs 26 ‘Both the quotations you have made, O king, are correct. But there is good reason why the Tathāgata, should have been both Brahman and also king.’
‘Pray what, Nāgasena, can be that reason?’
‘Because all evil qualities, not productive of merit, are in the Tathāgata suppressed, abandoned, put away, dispelled, rooted out, destroyed, come to an end, gone out, and ceased, therefore is it that the Tathāgata is called a Brahman. A Brahman, O king, means one who has passed beyond hesitation, perplexity, and doubt. And it is because the Tathāgata has done all this, that therefore also is he called a Brahman. A Brahman, O king, means one who has escaped from every sort and class of becoming, who is entirely set free from evil and from stain, who is dependent on himself, and it is because the Tathāgata is all of these things, that therefore also is he called a Brahman. A Brahman, O king, means one who cultivates within himself the highest and best of the excellent and supreme PTS vp En 27 conditions of heart. And it is because the Tathāgata does this that therefore also is he called a Brahman. A Brahman, O king, means one who carries on the line of the tradition of the ancient instructions concerning the learning and the teaching of sacred writ, concerning the acceptance of gifts, concerning subjugation of the senses, self-control in conduct, and performance of duty. And it is because the Tathāgata carries on the line of the tradition of the ancient rules enjoined by the Conquerors regarding all these things, that therefore also is he called a Brahman. PTS vp Pali 226 A Brahman, O king, means one who enjoys the supreme bliss of the ecstatic meditation. And it is because the Tathāgata does this, that therefore also is he called a Brahman. A Brahman, O king, means one who knows the course and revolution of births in all forms of existence. And it is because the Tathāgata knows this, that therefore also is he called a Brahman. The appellation “Brahman,” O king, was not given to the Blessed One by his mother, nor his father, not by his brother, nor his sister, not by his friends, nor his relations, not by spiritual teachers of any sort, no, not by the gods. It is by reason of their emancipation that this is the name of the Buddhas, the Blessed Ones. From the moment when, under the Tree of Wisdom, they had overthrown the armies of the Evil One, had suppressed in themselves all evil qualities not productive of merit, and had attained to the knowledge of the Omniscient PTS vp En 28 Ones, it was from the acquisition of this insight, the appearance in them of this enlightenment, that this true designation became applied to them—the name of “Brahman.” And that is the reason why the Tathāgata is called a Brahman.’
PTS cs 27 ‘Then what is the reason why the Tathāgata is called a king?’
‘A king means, O king, one who rules and guides the world, and the Blessed One rules in righteousness over the ten thousand world systems, he guides the whole world with its men and gods, its evil spirits and its good ones, and its teachers, whether Samaṇas or Brahmans. That is the reason why the Tathāgata is called a king. A king means, O king, one who, exalted above all ordinary men, making those related to him rejoice, and those opposed to him mourn; raises aloft the Sunshade of Sovranty, of pure and stainless white, with its handle of firm hard wood, and its many hundred ribs—the symbol of his mighty fame and glory. And the Blessed One, O king, making the army of the Evil One, those given over to false doctrine, mourn; filling the hearts of those, among gods or men, devoted to sound doctrine, with joy; PTS vp Pali 227 raises aloft over the ten thousand world systems the Sunshade of his Sovranty, pure and stainless in the whiteness of emancipation, PTS vp En 29 with its hundreds of ribs fashioned out of the highest wisdom, with its handle firm and strong through long suffering—the symbol of his mighty fame and glory. That too is the reason why the Tathāgata is called a king. A king is one who is held worthy of homage by the multitudes who approach him, who come into his presence. And the Blessed One, O king, is held worthy of homage by multitudes of beings, whether gods or men, who approach him, who come into his presence. That too is the reason why the Tathāgata is called a king. A king is one who, when pleased with a strenuous servant, gladdens his heart by bestowing upon him, at his own good pleasure, any costly gift the officer may choose. And the Blessed One, O king, when pleased with any one who has been strenuous in word or deed or thought, gladdens his heart by bestowing upon him, as a selected gift, the supreme deliverance from all sorrow—far beyond all material gifts. That too is the reason why the Tathāgata is called a king. A king is one who censures, fines, or executes the man who transgresses PTS vp En 30 The royal commands. And so, O king, the man who, in shamelessness or discontent, transgresses the command of the Blessed One, as laid down in the rules of his Order, that man, despised, disgraced and censured, is expelled from the religion of the Conqueror. That too is the reason why the Tathāgata is called a king. A king is one who in his turn proclaiming laws and regulations according to the instructions laid down in succession by the righteous kings of ancient times, and thus carrying on his rule in righteousness, becomes beloved and dear to the people, desired in the world, and by the force of his righteousness establishes his dynasty long in the land. And the Blessed One, O king, proclaiming in his turn laws and regulations according to the instructions laid down in succession by the Buddhas of ancient times, and thus in righteousness being teacher of the world—he too is beloved and dear to both gods and men, desired by them, and by the force of his righteousness he makes his religion last long in the land. That too is the reason why the Tathāgata is called a king.
‘Thus, O king, so many are the reasons why the Tathāgata should be both Brahman and also king, that the ablest of the brethren could scarcely in an aeon enumerate them all. Why then should I dilate any further? Accept what I have said only in brief.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the Buddha belonging to two castes.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Ta là đức vua Sela.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Ta là đức vua Sela’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Ta là đức vua Sela,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin’ cũng là sai trái. Bởi vì chỉ có thể hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn, nghĩa là không thể có hai giai cấp cho một lần sanh ra. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Ta là đức vua Sela.’ Ở đây có lý do, mà với lý do ấy đức Như Lai vừa là vị Bà-la-môn vừa là vua.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì lý do ấy là gì, mà với lý do ấy đức Như Lai vừa là vị Bà-la-môn vừa là vua?”
“Tâu đại vương, tất cả các ác bất thiện pháp của đức Như Lai đã được lánh xa, đã được dứt bỏ, đã được xa lìa, đã được dứt lìa, đã được chặt đứt, đã đi đến sự cạn kiệt, đã được diệt tắt, đã được an tịnh, vì thế đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là đã vượt qua sự nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng đã vượt qua sự nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là đã lìa khỏi tất cả các nguồn gốc đưa đến hữu và cảnh giới tái sanh, đã thoát ra khỏi việc bị dính líu đến ô nhiễm và bụi bặm, không có bạn đồng hành. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng đã lìa khỏi tất cả các nguồn gốc đưa đến hữu và cảnh giới tái sanh, đã thoát ra khỏi việc bị dính líu đến ô nhiễm và bụi bặm, không có bạn đồng hành. Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
BJT 3Bà-là-môn nghĩa là có nhiều sự an trú cao cả, tối thượng, cao quý, ưu tú thuộc về cõi trời. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng có nhiều sự an trú cao cả, tối thượng, cao quý, ưu tú thuộc về cõi trời. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là người duy trì dòng dõi về sự chỉ dạy và truyền thống trước đây về việc học thuộc lòng, giảng dạy, tiếp nhận vật thí, rèn luyện, thu thúc, và kiềm chế. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng là người duy trì dòng dõi về sự chỉ dạy và truyền thống đã được thực hành bởi các đấng Chiến Thắng trước đây về việc học thuộc lòng, giảng dạy, tiếp nhận vật thí, rèn luyện, thu thúc, và kiềm chế. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là vị có sự tham thiền về thiền có sự trú vào lạc bao la. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng là vị có sự tham thiền về thiền có sự trú vào lạc bao la. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là vị biết sự vận hành và chọn lựa việc tái sanh ở tất cả các cảnh giới hữu và phi hữu. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng là vị biết sự vận hành và chọn lựa việc tái sanh ở tất cả các cảnh giới hữu và phi hữu. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Tâu đại vương, tên gọi ‘Bà-là-môn’ này của đức Thế Tôn không do mẹ tạo ra, không do cha tạo ra, không do anh trai tạo ra, không do chị gái tạo ra, không do các bạn bè thân hữu tạo ra, không do các thân quyến cùng huyết thống tạo ra, không do các Sa-môn và Bà-la-môn tạo ra, không do chư Thiên tạo ra. Tên gọi này của chư Phật Thế Tôn liên quan đến mốc cuối cùng của sự giải thoát, cùng với sự đạt được trí Toàn Tri sau khi tiêu diệt đạo binh của Ma Vương ở ngay dưới cội cây Bồ Đề, sau khi lánh xa các ác bất thiện pháp thuộc quá khứ, hiện tại, và vị lai, là sự xác định thực tế về việc đã đạt được, đã được hiển lộ, đã được sanh khởi, tức là ‘Bà-là-môn.’ Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì với lý do gì đức Như Lai được gọi là ‘Vua’?”
“Tâu đại vương, vua nghĩa là người nào cai trị vương quốc, chỉ dạy thế gian. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng cai trị vương quốc bằng Giáo Pháp ở mười ngàn thế giới, chỉ dạy thế gian tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến loài người luôn cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là sau khi chế ngự toàn bộ dân chúng loài người, trong khi làm hoan hỷ tập thể thân quyến, trong khi gây sầu muộn cho tập thể kẻ thù, rồi cho giương lên chiếc lọng che màu trắng tinh khiết là vật đem lại danh vọng và vinh quang lớn lao vĩ đại, có thanh cầm bằng lõi cây cứng chắc, được trang hoàng với một trăm thanh nan không thiếu sót. Tâu đại vương, đức Thế Tôn trong khi gây sầu muộn cho đội binh của Ma Vương có sự thực hành sai trái, trong khi làm hoan hỷ chư thiên và nhân loại có sự thực hành đúng đắn, cũng cho giương lên ở mười ngàn thế giới chiếc lọng che màu trắng tinh khiết của sự giải thoát cao cả quý báu, là vật đem lại danh vọng và vinh quang lớn lao vĩ đại, có thanh cầm bằng lõi cây cứng chắc là sự nhẫn nại, được trang hoàng với một trăm thanh nan trí tuệ cao quý. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là vị đáng được đảnh lễ bởi số đông dân chúng đã đi đến và gặp gỡ. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng là vị đáng được đảnh lễ bởi số đông chư Thiên và nhân loại đã đi đến và gặp gỡ. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là đối với người nào có sự ra sức thì tin tưởng, ban cho ân huệ đã chọn lựa, và làm thỏa mãn theo như ước muốn. Tâu đại vương, đức Thế Tôn đối với người nào có sự ra sức về thân, về khẩu, về ý, thì cũng tin tưởng, ban cho ân huệ vô thượng đã chọn lựa là sự giải thoát hoàn toàn mọi sự khổ đau, và làm thỏa mãn trọn vẹn ân huệ theo như ước muốn. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là đối với kẻ chống lại mệnh lệnh thì quở trách, loại trừ, tiêu diệt. Tâu đại vương, trong Giáo Pháp cao quý của đức Thế Tôn, kẻ vô liêm sỉ vượt qua sự quy định cũng bị chê bai, khinh miệt, khiển trách vì tình trạng yếu hèn và bị loại ra khỏi Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là sau khi giảng giải về đúng pháp và sai pháp theo truyền thống và sự chỉ dạy của các vị vua chính trực trước đây, trong khi cai quản vương quốc một cách chính trực thì trở thành vị được ước muốn, được yêu mến, được mong cầu đối với dân chúng và loài người, rồi duy trì dòng dõi hoàng tộc lâu dài nhờ vào năng lực và ân đức của sự chính trực. Tâu đại vương, đức Thế Tôn sau khi cũng giảng giải về đúng pháp và sai pháp theo truyền thống và sự chỉ dạy của các đấng Tự Chủ trước đây, trong khi chỉ dạy thế gian đúng theo Pháp thì sẽ trở thành vị được ước muốn, được yêu mến, được mong cầu đối với chư Thiên và nhân loại, rồi chuyển vận Giáo Pháp lâu dài nhờ vào năng lực và ân đức của Pháp bảo. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, như vậy lý do có nhiều loại, mà với lý do ấy đức Như Lai có thể vừa là Bà-la-môn có thể vừa là vua. Vị tỳ khưu vô cùng khôn khéo cũng không có thể thành tựu được việc ấy cho dầu là một kiếp. Có ích gì với việc nói quá nhiều, điều khái quát nên được chấp nhận.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về lời nói là Bà-la-môn và là vua là thứ tám.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ tathāgatena ‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘rājāhamasmi selā’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti, tena hi ‘rājāhamasmi selā’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘rājāhamasmi selā’ti, tena hi ‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti tampi vacanaṁ micchā.
Khattiyo vā hi bhaveyya brāhmaṇo vā, natthi ekāya jātiyā dve vaṇṇā nāma, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti, puna ca bhaṇitaṁ—
‘rājāhamasmi selā’ti, tattha kāraṇaṁ atthi, yena kāraṇena tathāgato brāhmaṇo ca rājā ca hotī”ti.
“Kiṁ pana taṁ, bhante nāgasena, kāraṇaṁ, yena kāraṇena tathāgato brāhmaṇo ca rājā ca hoti”?
“Sabbe, mahārāja, pāpakā akusalā dhammā tathāgatassa bāhitā pahīnā apagatā byapagatā ucchinnā khīṇā khayaṁ pattā nibbutā upasantā, tasmā tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma saṁsayamanekaṁsaṁ vimatipathaṁ vītivatto, bhagavāpi, mahārāja, saṁsayamanekaṁsaṁ vimatipathaṁ vītivatto, tena kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma sabbabhavagatiyoninissaṭo malarajagatavippamutto asahāyo, bhagavāpi, mahārāja, sabbabhavagatiyoninissaṭo malarajagatavippamutto asahāyo, tena kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma aggaseṭṭhavarapavaradibbavihārabahulo, bhagavāpi, mahārāja, aggaseṭṭhavarapavaradibbavihārabahulo, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma ajjhayanaajjhāpanadānappaṭiggahaṇadamasaṁyamaniyamapubbamanusiṭṭhipaveṇivaṁsadharaṇo, bhagavāpi, mahārāja, ajjhayanaajjhāpanadānappaṭiggahaṇadamasaṁyamaniyamapubbajināciṇṇaanusiṭṭhipaveṇivaṁsadharaṇo, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma brahāsukhavihārajjhānajhāyī;
bhagavāpi, mahārāja, brahāsukhavihārajjhānajhāyī, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇo nāma sabbabhavābhavagatīsu abhijātivattitamanucaritaṁ jānāti, bhagavāpi, mahārāja, sabbabhavābhavagatīsu abhijātivattitamanucaritaṁ jānāti, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
Brāhmaṇoti, mahārāja, bhagavato netaṁ nāmaṁ mātarā kataṁ, na pitarā kataṁ, na bhātarā kataṁ, na bhaginiyā kataṁ, na mittāmaccehi kataṁ, na ñātisālohitehi kataṁ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ, na devatāhi kataṁ, vimokkhantikametaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ nāmaṁ bodhiyāyeva mūle mārasenaṁ vidhamitvā atītānāgatapaccuppanne pāpake akusale dhamme bāhetvā saha sabbaññutañāṇassa paṭilābhā paṭiladdhapātubhūtasamuppannamatte sacchikā paññatti yadidaṁ brāhmaṇoti, tena kāraṇena tathāgato vuccati ‘brāhmaṇo’”ti.
“Kena pana, bhante nāgasena, kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’”ti?
“Rājā nāma, mahārāja, yo koci rajjaṁ kāreti lokamanusāsati, bhagavāpi, mahārāja, dasasahassiyā lokadhātuyā dhammena rajjaṁ kāreti, sadevakaṁ lokaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ anusāsati, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma, mahārāja, sabbajanamanusse abhibhavitvā nandayanto ñātisaṅghaṁ, socayanto amittasaṅghaṁ, mahatimahāyasasiriharaṁ thirasāradaṇḍaṁ anūnasatasalākālaṅkataṁ ussāpeti paṇḍaravimalasetacchattaṁ, bhagavāpi, mahārāja, socayanto mārasenaṁ micchāpaṭipannaṁ, nandayanto devamanusse sammāpaṭipanne dasasahassiyā lokadhātuyā mahatimahāyasasiriharaṁ khantithirasāradaṇḍaṁ ñāṇavarasatasalākālaṅkataṁ ussāpeti aggavaravimuttipaṇḍaravimalasetacchattaṁ, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma upagatasampattajanānaṁ bahūnamabhivandanīyo bhavati, bhagavāpi, mahārāja, upagatasampattadevamanussānaṁ bahūnamabhivandanīyo, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma yassa kassaci ārādhakassa pasīditvā varitaṁ varaṁ datvā kāmena tappayati, bhagavāpi, mahārāja, yassa kassaci kāyena vācāya manasā ārādhakassa pasīditvā varitaṁ varamanuttaraṁ sabbadukkhaparimuttiṁ datvā asesakāmavarena ca tappayati, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma āṇaṁ vītikkamantaṁ vigarahati jhāpeti dhaṁseti, bhagavatopi, mahārāja, sāsanavare āṇaṁ atikkamanto alajjī maṅkubhāvena oññāto hīḷito garahito bhavitvā vajjati jinasāsanavaramhā, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Rājā nāma pubbakānaṁ dhammikānaṁ rājūnaṁ paveṇimanusiṭṭhiyā dhammādhammamanudīpayitvā dhammena rajjaṁ kārayamāno pihayito piyo patthito bhavati janamanussānaṁ, ciraṁ rājakulavaṁsaṁ ṭhapayati dhammaguṇabalena, bhagavāpi, mahārāja, pubbakānaṁ sayambhūnaṁ paveṇimanusiṭṭhiyā dhammādhammamanudīpayitvā dhammena lokamanusāsamāno pihayito piyo patthito devamanussānaṁ ciraṁ sāsanaṁ pavatteti dhammaguṇabalena, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
Evamanekavidhaṁ, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena tathāgato brāhmaṇopi bhaveyya rājāpi bhaveyya, sunipuṇo bhikkhu kappampi no naṁ sampādeyya, kiṁ atibahuṁ bhaṇitena, saṅkhittaṁ sampaṭicchitabban”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Brāhmaṇarājavādapañho aṭṭhamo.