BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin, luôn có bàn tay đưa ra (bố thí), mang thân mạng cuối cùng, là vị y sĩ, vị phẫu thuật vô thượng.’ Và thêm nữa, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các tỳ khưu đệ tử ít có bệnh tật của Ta, tức là Bakkula.’ Và bệnh tật được nhìn thấy đã nhiều lần sanh khởi ở cơ thể của đức Thế Tôn.
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai là vô thượng, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các tỳ khưu đệ tử ít có bệnh tật của Ta, tức là Bakkula’ là sai trái. Nếu trưởng lão Bakkula là đứng đầu trong số các vị ít có bệnh tật, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin, luôn có bàn tay đưa ra (bố thí), mang thân mạng cuối cùng, là vị y sĩ, vị phẫu thuật vô thượng’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin, luôn có bàn tay đưa ra (bố thí), mang thân mạng cuối cùng, là vị y sĩ, vị phẫu thuật vô thượng.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các tỳ khưu đệ tử ít có bệnh tật của Ta, tức là Bakkula.’ Tuy nhiên, điều ấy được nói có liên quan đến tình trạng đang có ở bản thân đối với sự chứng đắc và việc học tập ở bên ngoài (của Tam Tạng).
Tâu đại vương, hơn nữa có những vị đệ tử của đức Thế Tôn là các vị chuyên đứng và đi kinh hành. Các vị ấy trải qua ngày đêm với việc đứng và đi kinh hành. Tâu đại vương, trái lại đức Thế Tôn trải qua ngày và đêm với việc đứng, đi kinh hành, ngồi, và nằm. Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào chuyên đứng và đi kinh hành, những vị ấy là vượt trội về chi phần ấy.
Tâu đại vương, hơn nữa có những vị đệ tử của đức Thế Tôn là các vị thọ thực chỉ một chỗ ngồi. Các vị ấy, cho dù vì nguyên nhân mạng sống, cũng không thọ dụng hai bữa ăn. Tâu đại vương, trái lại đức Thế Tôn thọ dụng vật thực thậm chí đến lần thứ nhì luôn cả đến lần thứ ba. Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào chỉ thọ thực một chỗ ngồi, những vị ấy là vượt trội về chi phần ấy. Tâu đại vương, những việc làm ấy với nhiều hình thức được nói đến có liên quan đến việc này việc nọ của những vị này vị khác. Tâu đại vương, tuy nhiên đức Thế Tôn là vượt trội về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát, về mười lực, về bốn pháp tự tín, về mười tám pháp của vị Phật, về sáu trí không phổ thông (đến các vị Thinh Văn). Và điều ấy đã được nói đến có liên quan đến toàn bộ cương vị của một bậc Giác Ngộ là: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin, luôn có bàn tay đưa ra (bố thí), mang thân mạng cuối cùng, là vị y sĩ, vị phẫu thuật vô thượng.’
BJT 3Tâu đại vương, nơi đây ở giữa loài người: một người là có dòng dõi, một người có tài sản, một người có kiến thức, một người có tài nghệ, một người là anh hùng, một người có sự cảnh giác, sau khi vượt trội tất cả những người này, chính đức vua là tối thượng trong số những người ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn là vị đứng đầu, cao cả, tối thượng trong số tất cả các chúng sanh.
Trái lại, về việc đại đức Bakkula đã là người ít có bệnh tật, việc ấy là do năng lực của sự ước nguyện. Tâu đại vương, bởi vì khi bệnh đau bụng bão của đức Thế Tôn Anomadassī đã sanh khởi, và khi bệnh hoa cỏ (dị ứng?) của đức Thế Tôn Vipassī và sáu mươi tám ngàn vị tỳ khưu đã sanh khởi, vị ấy, trong khi bản thân là đạo sĩ khổ hạnh, đã xua đi cơn bệnh ấy bằng vô số thuốc men khác loại nên đã đạt được trạng thái ít bệnh tật. Và điều đã được nói là: ‘Này các tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các tỳ khưu đệ tử ít có bệnh tật của Ta, tức là Bakkula.’
Tâu đại vương, trong khi căn bệnh của đức Thế Tôn đang sanh lên cũng như đang tiếp diễn, trong khi Ngài đang duy trì cũng như không duy trì pháp từ khước, không có bất cứ chúng sanh nào sánh bằng đức Thế Tôn. Điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Saṁyuttanikāya (Tương Ưng Bộ) rằng: ‘Này các tỳ khưu, cho đến các hàng chúng sanh không chân, hoặc hai chân, hoặc bốn chân, hoặc nhiều chân, hoặc hữu hình, hoặc vô hình, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc phi tưởng phi phi tưởng, trong số các hạng ấy đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác được gọi là hạng nhất.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự ít bệnh của đức Thế Tôn là thứ ba.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo sadā payatapāṇi antimadehadharo anuttaro bhisakko sallakatto’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ bhagavatā—
‘etadaggaṁ, bhikkhave, mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ appābādhānaṁ yadidaṁ bākulo’ti.
Bhagavato ca sarīre bahukkhattuṁ ābādho uppanno dissati.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato anuttaro, tena hi ‘etadaggaṁ …pe…
bākulo’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi thero bākulo appābādhānaṁ aggo, tena hi ‘ahamasmi …pe…
sallakatto’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘ahamasmi …pe…
sallakatto’ti, bhaṇitañca—
‘etadaggaṁ …pe…
bākulo’ti, tañca pana bāhirānaṁ āgamānaṁ adhigamānaṁ pariyattīnaṁ attani vijjamānataṁ sandhāya bhāsitaṁ.
Santi kho pana, mahārāja, bhagavato sāvakā ṭhānacaṅkamikā, te ṭhānena caṅkamena divārattiṁ vītināmenti, bhagavā pana, mahārāja, ṭhānena caṅkamena nisajjāya sayanena divārattiṁ vītināmeti, ye te, mahārāja, bhikkhū ṭhānacaṅkamikā, te tena aṅgena atirekā.
Santi kho pana, mahārāja, bhagavato sāvakā ekāsanikā, te jīvitahetupi dutiyaṁ bhojanaṁ na bhuñjanti, bhagavā pana, mahārāja, dutiyampi yāva tatiyampi bhojanaṁ bhuñjati, ye te, mahārāja, bhikkhū ekāsanikā, te tena aṅgena atirekā, anekavidhāni, mahārāja, tāni kāraṇāni tesaṁ tesaṁ taṁ taṁ sandhāya bhaṇitāni.
Bhagavā pana, mahārāja, anuttaro sīlena samādhinā paññāya vimuttiyā vimuttiñāṇadassanena dasahi ca balehi catūhi vesārajjehi aṭṭhārasahi buddhadhammehi chahi asādhāraṇehi ñāṇehi, kevale ca buddhavisaye taṁ sandhāya bhaṇitaṁ—
‘ahamasmi …pe…
sallakatto’ti.
Idha, mahārāja, manussesu eko jātimā hoti, eko dhanavā, eko vijjavā, eko sippavā, eko sūro, eko vicakkhaṇo, sabbepete abhibhaviya rājāyeva tesaṁ uttamo hoti;
evameva kho, mahārāja, bhagavā sabbasattānaṁ aggo jeṭṭho seṭṭho.
Yaṁ pana āyasmā bākulo appābādho ahosi, taṁ abhinīhāravasena, so hi, mahārāja, anomadassissa bhagavato udaravātābādhe uppanne vipassissa ca bhagavato aṭṭhasaṭṭhiyā ca bhikkhusatasahassānaṁ tiṇapupphakaroge uppanne sayaṁ tāpaso samāno nānābhesajjehi taṁ byādhiṁ apanetvā appābādhataṁ patto, bhaṇito ca ‘etadaggaṁ …pe…
bākulo’ti.
Bhagavato, mahārāja, byādhimhi uppajjantepi anuppajjantepi dhutaṅgaṁ ādiyantepi anādiyantepi natthi bhagavatā sadiso koci satto.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavaralañchake—
‘Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññīnāsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Buddhaappābādhapañho tatiyo.
PTS cs 8 ‘Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One:
“A Brahman am I, O brethren, devoted to self-sacrifice, pure-handed at every time; this body that I bear with me is my last, I am the supreme Healer and Physician.”
‘But on the other hand the Blessed One said:
“The chief, O brethren, among those who are disciples of mine, in the matter of bodily health, is Bakkula.”
‘Now it is well known that diseases arose several times in the body of the Blessed One. So that if, Nāgasena, the Tathāgata was supreme, then the statement he made about Bakkula’s bodily health must be wrong. But if the Elder named Bakkula was really chief among those who were healthy, then that statement which I first quoted must be PTS vp En 9 wrong. This too is a double-edged problem, now put to you, which you have to solve.’
PTS cs 9 ‘Both the quotations you have made, O king, are correct. But what the Blessed One said about Bakkula was said of those disciples who had learnt by heart the sacred words, and studied them, and handed down the tradition, which in reference to the characteristics (each of them in some one point) had in addition to those which were found in him himself. PTS vp Pali 216 For there were certain of the disciples of the Blessed One, O king, who were “meditators on foot,” spending a whole day and night in walking up and down in meditation. But the Blessed One was in the habit of spending the day and night in meditation, not only walking up and down but also sitting and lying down. So such, O king, of the disciples as were “meditators on foot “ surpassed him in that particular. And there were certain of the disciples of the Blessed One, O king, who were “eaters at one sitting,” who would not, even to save their lives, take more than one meal a day. But the PTS vp En 10 Blessed One was in the habit of taking a second, or even a third. So such, O king, of the disciples as were “eaters at one sitting” surpassed him in that particular. And in a similar way, O king, a number of different things have been told, each one of one or other of the disciples. But the Blessed One, O king, surpassed them all in respect of uprightness, and of power of meditation, and of wisdom, and of emancipation, and of that insight which arises out of the knowledge of emancipation, and in all that lies within the scope of a Buddha. It was with reference to that, O king, that he said:
“A Brahman am I, O brethren, devoted to self-sacrifice, pure-handed at every time; this body that I bear with me is my last, I am the supreme Healer and Physician.”
PTS cs 10 ‘Now one man, O king, may be of good birth, and another may be wealthy, and another full of wisdom, and another well educated, and another brave, and another adroit; but a king, surpassing all these, is reckoned supreme. just in that way, O king, is the Blessed One the highest, the most worthy of respect, the best of all beings. And in so far as the venerable Bakkula was healthy in body, that was by reason of an aspiration (he had formed in a previous birth). For, O king, when Anoma-dassī, the Blessed One, was afflicted with a disease, with wind in his stomach, and again when Vipassī, the Blessed One, and sixty-eight thousand of his disciples, were afflicted with a disease, with greenness of blood, he, PTS vp En 11 being at those times an ascetic, had cured that disease with various medicines, and attained (thereby) to such healthiness of body (in this life) that it was said of him:
“The chief, O brethren, among those who are disciples of mine, in the matter of bodily health, is Bakkula.”
PTS cs 11 ‘But the Blessed One, O king, whether he be suffering, or not suffering from disease; whether he have taken, or not taken, upon himself the observance PTS vp En 12 of special vows—there is no being like unto the Blessed One. PTS vp Pali 217 For this, O king, has been said by the Blessed One, the god of gods, in the most excellent Saṁyutta Nikāya:
“Whatsoever beings, O brethren, there may be whether without feet, or bipeds, or four-footed things, whether with a body, or without a body, whether conscious or unconscious, or neither conscious nor not—the Tathāgata is acknowledged to be the chief of all, the Arahat, the Buddha Supreme.”’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to the superiority of Bakkula to the Buddha.
PTS vp En 13 BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin, luôn có bàn tay đưa ra (bố thí), mang thân mạng cuối cùng, là vị y sĩ, vị phẫu thuật vô thượng.’ Và thêm nữa, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các tỳ khưu đệ tử ít có bệnh tật của Ta, tức là Bakkula.’ Và bệnh tật được nhìn thấy đã nhiều lần sanh khởi ở cơ thể của đức Thế Tôn.
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai là vô thượng, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các tỳ khưu đệ tử ít có bệnh tật của Ta, tức là Bakkula’ là sai trái. Nếu trưởng lão Bakkula là đứng đầu trong số các vị ít có bệnh tật, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin, luôn có bàn tay đưa ra (bố thí), mang thân mạng cuối cùng, là vị y sĩ, vị phẫu thuật vô thượng’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin, luôn có bàn tay đưa ra (bố thí), mang thân mạng cuối cùng, là vị y sĩ, vị phẫu thuật vô thượng.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các tỳ khưu đệ tử ít có bệnh tật của Ta, tức là Bakkula.’ Tuy nhiên, điều ấy được nói có liên quan đến tình trạng đang có ở bản thân đối với sự chứng đắc và việc học tập ở bên ngoài (của Tam Tạng).
Tâu đại vương, hơn nữa có những vị đệ tử của đức Thế Tôn là các vị chuyên đứng và đi kinh hành. Các vị ấy trải qua ngày đêm với việc đứng và đi kinh hành. Tâu đại vương, trái lại đức Thế Tôn trải qua ngày và đêm với việc đứng, đi kinh hành, ngồi, và nằm. Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào chuyên đứng và đi kinh hành, những vị ấy là vượt trội về chi phần ấy.
Tâu đại vương, hơn nữa có những vị đệ tử của đức Thế Tôn là các vị thọ thực chỉ một chỗ ngồi. Các vị ấy, cho dù vì nguyên nhân mạng sống, cũng không thọ dụng hai bữa ăn. Tâu đại vương, trái lại đức Thế Tôn thọ dụng vật thực thậm chí đến lần thứ nhì luôn cả đến lần thứ ba. Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào chỉ thọ thực một chỗ ngồi, những vị ấy là vượt trội về chi phần ấy. Tâu đại vương, những việc làm ấy với nhiều hình thức được nói đến có liên quan đến việc này việc nọ của những vị này vị khác. Tâu đại vương, tuy nhiên đức Thế Tôn là vượt trội về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát, về mười lực, về bốn pháp tự tín, về mười tám pháp của vị Phật, về sáu trí không phổ thông (đến các vị Thinh Văn). Và điều ấy đã được nói đến có liên quan đến toàn bộ cương vị của một bậc Giác Ngộ là: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin, luôn có bàn tay đưa ra (bố thí), mang thân mạng cuối cùng, là vị y sĩ, vị phẫu thuật vô thượng.’
BJT 3Tâu đại vương, nơi đây ở giữa loài người: một người là có dòng dõi, một người có tài sản, một người có kiến thức, một người có tài nghệ, một người là anh hùng, một người có sự cảnh giác, sau khi vượt trội tất cả những người này, chính đức vua là tối thượng trong số những người ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn là vị đứng đầu, cao cả, tối thượng trong số tất cả các chúng sanh.
Trái lại, về việc đại đức Bakkula đã là người ít có bệnh tật, việc ấy là do năng lực của sự ước nguyện. Tâu đại vương, bởi vì khi bệnh đau bụng bão của đức Thế Tôn Anomadassī đã sanh khởi, và khi bệnh hoa cỏ (dị ứng?) của đức Thế Tôn Vipassī và sáu mươi tám ngàn vị tỳ khưu đã sanh khởi, vị ấy, trong khi bản thân là đạo sĩ khổ hạnh, đã xua đi cơn bệnh ấy bằng vô số thuốc men khác loại nên đã đạt được trạng thái ít bệnh tật. Và điều đã được nói là: ‘Này các tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các tỳ khưu đệ tử ít có bệnh tật của Ta, tức là Bakkula.’
Tâu đại vương, trong khi căn bệnh của đức Thế Tôn đang sanh lên cũng như đang tiếp diễn, trong khi Ngài đang duy trì cũng như không duy trì pháp từ khước, không có bất cứ chúng sanh nào sánh bằng đức Thế Tôn. Điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Saṁyuttanikāya (Tương Ưng Bộ) rằng: ‘Này các tỳ khưu, cho đến các hàng chúng sanh không chân, hoặc hai chân, hoặc bốn chân, hoặc nhiều chân, hoặc hữu hình, hoặc vô hình, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc phi tưởng phi phi tưởng, trong số các hạng ấy đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác được gọi là hạng nhất.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự ít bệnh của đức Thế Tôn là thứ ba.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo sadā payatapāṇi antimadehadharo anuttaro bhisakko sallakatto’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ bhagavatā—
‘etadaggaṁ, bhikkhave, mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ appābādhānaṁ yadidaṁ bākulo’ti.
Bhagavato ca sarīre bahukkhattuṁ ābādho uppanno dissati.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato anuttaro, tena hi ‘etadaggaṁ …pe…
bākulo’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi thero bākulo appābādhānaṁ aggo, tena hi ‘ahamasmi …pe…
sallakatto’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘ahamasmi …pe…
sallakatto’ti, bhaṇitañca—
‘etadaggaṁ …pe…
bākulo’ti, tañca pana bāhirānaṁ āgamānaṁ adhigamānaṁ pariyattīnaṁ attani vijjamānataṁ sandhāya bhāsitaṁ.
Santi kho pana, mahārāja, bhagavato sāvakā ṭhānacaṅkamikā, te ṭhānena caṅkamena divārattiṁ vītināmenti, bhagavā pana, mahārāja, ṭhānena caṅkamena nisajjāya sayanena divārattiṁ vītināmeti, ye te, mahārāja, bhikkhū ṭhānacaṅkamikā, te tena aṅgena atirekā.
Santi kho pana, mahārāja, bhagavato sāvakā ekāsanikā, te jīvitahetupi dutiyaṁ bhojanaṁ na bhuñjanti, bhagavā pana, mahārāja, dutiyampi yāva tatiyampi bhojanaṁ bhuñjati, ye te, mahārāja, bhikkhū ekāsanikā, te tena aṅgena atirekā, anekavidhāni, mahārāja, tāni kāraṇāni tesaṁ tesaṁ taṁ taṁ sandhāya bhaṇitāni.
Bhagavā pana, mahārāja, anuttaro sīlena samādhinā paññāya vimuttiyā vimuttiñāṇadassanena dasahi ca balehi catūhi vesārajjehi aṭṭhārasahi buddhadhammehi chahi asādhāraṇehi ñāṇehi, kevale ca buddhavisaye taṁ sandhāya bhaṇitaṁ—
‘ahamasmi …pe…
sallakatto’ti.
Idha, mahārāja, manussesu eko jātimā hoti, eko dhanavā, eko vijjavā, eko sippavā, eko sūro, eko vicakkhaṇo, sabbepete abhibhaviya rājāyeva tesaṁ uttamo hoti;
evameva kho, mahārāja, bhagavā sabbasattānaṁ aggo jeṭṭho seṭṭho.
Yaṁ pana āyasmā bākulo appābādho ahosi, taṁ abhinīhāravasena, so hi, mahārāja, anomadassissa bhagavato udaravātābādhe uppanne vipassissa ca bhagavato aṭṭhasaṭṭhiyā ca bhikkhusatasahassānaṁ tiṇapupphakaroge uppanne sayaṁ tāpaso samāno nānābhesajjehi taṁ byādhiṁ apanetvā appābādhataṁ patto, bhaṇito ca ‘etadaggaṁ …pe…
bākulo’ti.
Bhagavato, mahārāja, byādhimhi uppajjantepi anuppajjantepi dhutaṅgaṁ ādiyantepi anādiyantepi natthi bhagavatā sadiso koci satto.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavaralañchake—
‘Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññīnāsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Buddhaappābādhapañho tatiyo.