BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy. Ở thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình, và đã tôn vinh Ta với sự tôn vinh tột bực.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy. Ở thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.’
Và Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình, và đã tôn vinh Ta với sự tôn vinh tột bực.’ Tuy nhiên, lời nói ấy đã được nói liên quan đến bản thân vị thầy của chính đức Bồ Tát lúc chưa là bậc Chánh Đẳng Giác, trước khi giác ngộ.
Tâu đại vương, năm vị này là những người thầy của đức Bồ Tát lúc chưa là bậc Chánh Đẳng Giác, trước khi giác ngộ. Được chỉ dạy bởi những vị này, đức Bồ Tát đã trải qua ở nơi kia ở nơi nọ. Năm vị nào?
Tâu đại vương, khi đức Bồ Tát ở giai đoạn đã được sanh ra, các vị ấy là tám vị Bà-la-môn đã xét đoán các tướng tốt, tức là các vị Rāma, Dhaja, Lakkhaṇa, Mantī, Yañña, Suyāma, Subhoja, Sudatta. Các vị ấy đã tuyên bố về điềm lành của đức Bồ Tát và đã thực hiện công việc bảo hộ; các vị ấy là những vị thầy đầu tiên.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là vị Bà-la-môn tên Sabbamitta, được sanh ra ở nơi quý phái, cao thượng, có dòng dõi, biết về cú pháp, về văn phạm, có sáu chi phần (của kinh Vệ Đà). Vào lúc bấy giờ, người cha của đức Bồ Tát, đức vua Suddhodana, sau khi rước về đã rưới nước với chiếc bình vàng, rồi đã trao cho (nói rằng): ‘Hãy cho đứa bé trai này học tập;’ đây là vị thầy thứ nhì.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là vị Thiên nhân đã khiến cho đức Bồ Tát chấn động tâm. Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, đức Bồ Tát đã bị chấn động, kinh hoàng, rồi vào chính thời khắc ấy đã ra đi xuất ly và đã xuất gia; đây là vị thầy thứ ba.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là Āḷāra Kālāma; đây là vị thầy thứ tư.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là Uddaka Rāmaputta; đây là vị thầy thứ năm.
Tâu đại vương, đây là năm vị thầy của đức Bồ Tát lúc chưa là bậc Chánh Đẳng Giác, trước khi giác ngộ. Tuy nhiên, các vị này là những người thầy về pháp thế gian. Tâu đại vương, trái lại trong việc thấu triệt trí Toàn Tri về các pháp xuất thế gian này, thì không có vị hướng dẫn nào trội hơn đức Như Lai. Tâu đại vương, đức Như Lai là đấng Tự Chủ, bậc không có thầy.
Bởi lý do ấy, đức Như Lai đã nói rằng:
‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy. Ở thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về trạng thái không có thầy của vị thầy là thứ mười một.
Phẩm Thân Thiết là thứ năm.
(Trong phẩm này có mười một câu hỏi)
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Na me ācariyo atthi,
sadiso me na vijjati;
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ,
natthi me paṭipuggalo’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati.
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ, natthi me paṭipuggalo’ti, tena hi ‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesī’ti, tena hi ‘na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati.
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ, natthi me paṭipuggalo’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, tathāgatena
‘Na me ācariyo atthi,
sadiso me na vijjati;
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ,
natthi me paṭipuggalo’ti.
Bhaṇitañca—
‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesī’ti.
Tañca pana vacanaṁ pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato ācariyabhāvaṁ sandhāya bhāsitaṁ.
Pañcime, mahārāja, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattassa sato ācariyā, yehi anusiṭṭho bodhisatto tattha tattha divasaṁ vītināmesi.
Katame pañca?
Ye te, mahārāja, aṭṭha brāhmaṇā jātamatte bodhisatte lakkhaṇāni pariggaṇhiṁsu, seyyathidaṁ—
rāmo dhajo lakkhaṇo mantī yañño suyāmo subhojo sudattoti.
Te tassa sotthiṁ pavedayitvā rakkhākammaṁ akaṁsu, te ca paṭhamaṁ ācariyā.
Puna caparaṁ, mahārāja, bodhisattassa pitā suddhodano rājā yaṁ tena samayena abhijātaṁ udiccajātimantaṁ padakaṁ veyyākaraṇaṁ chaḷaṅgavantaṁ sabbamittaṁ nāma brāhmaṇaṁ upanetvā sovaṇṇena bhiṅgārena udakaṁ oṇojetvā ‘imaṁ kumāraṁ sikkhāpehī’ti adāsi, ayaṁ dutiyo ācariyo.
Puna caparaṁ, mahārāja, yā sā devatā bodhisattaṁ saṁvejesi, yassā vacanaṁ sutvā bodhisatto saṁviggo ubbiggo tasmiṁyeva khaṇe nekkhammaṁ nikkhamitvā pabbaji, ayaṁ tatiyo ācariyo.
Puna caparaṁ, mahārāja, āḷāro kālāmo ākiñcaññāyatanassa parikammaṁ ācikkhi, ayaṁ catuttho ācariyo.
Puna caparaṁ, mahārāja, udako rāmaputto nevasaññānāsaññāyatanassa parikammaṁ ācikkhi, ayaṁ pañcamo ācariyo.
Ime kho, mahārāja, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattassa sato pañca ācariyā.
Te ca pana ācariyā lokiye dhamme.
Imasmiñca pana, mahārāja, lokuttare dhamme sabbaññutañāṇappaṭivedhāya natthi tathāgatassa anuttaro anusāsako, sayambhū, mahārāja, tathāgato anācariyako, tasmā kāraṇā tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘Na me ācariyo atthi,
sadiso me na vijjati;
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ,
natthi me paṭipuggalo’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Ācariyānācariyapañho ekādasamo.
Santhavavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Imasmiṁ vagge ekādasa pañhā.
Meṇḍakapañho niṭṭhito.
PTS cs 1 PTS vp Pali 235 ‘Venerable Nāgasena, this too has been said by the Blessed One:
“I have no teacher, and the man
Equal to me does not exist.
No rival to me can be found
In the whole world of gods and men.”
‘But on the other hand he said:
“Thus then, O brethren, Āḷāra Kālāma, when he was my teacher and I was his pupil, placed me on an equality with himself, and honoured me with exceeding great honour.” PTS vp En 44
‘Now if the former of these statements be right, then the second must be wrong. But if the second be right, then the first must be wrong. This too is a double-edged problem, now put to you, which you have to solve.’
PTS cs 2 ‘Both the quotations you have made, O king, are accurate. But when he spoke of Āḷāra Kālāma as his teacher, that was a statement made with reference to the fact of his having been his teacher while he (Gotama) was still a Bodisat and before he had attained to insight and to Buddhahood; and there were five such teachers, O king, under whose tuition the Bodisat spent his time in various places—his teachers when he was still a Bodisat, before he had attained to insight and to Buddhahood. And who were these five?
PTS cs 3 ‘Those eight Brahmans who, just after the birth of the Bodisat, took note of the marks on his body—PTS vp Pali 236 Rāma, and Dhaja, and Lakkhaṇa, and Mantī, and Yañña, and Suyāma, and Subhoja, and Sudatta —they who then made known his future glory, and marked him out as one to be carefully guarded-these were first his teachers. PTS vp En 45
‘And again, O king, the Brahman Sabbamitta of distinguished descent, who was of high lineage in the land of Udicca, a philologist and grammarian, well read in the six Vedaṅgas, whom Suddhodana the king, the Bodisat’s father, sent for, and having poured out the water of dedication from a golden vase, handed over the boy to his charge, to be taught—this was his second teacher.
‘And again, O king, the god who raised the agitation in the Bodisat’s heart, at the sound of whose speech the Bodisat, moved and anxious, that very moment went out from the world in his Great Renunciation—this was his third teacher. PTS vp En 46
‘And again, O king, Āḷāra Kālāma—he was his fourth teacher.
‘And again, O king, Uddaka the son of Rāma—he was his fifth teacher.
‘These, O king, are the five who were his teachers when he was still a Bodisat, before he had attained to insight and to Buddhahood. But they were teachers in worldly wisdom. And in this Doctrine that is transcendental, in the penetrating into the wisdom of the omniscient ones—in that there is no one who is above the Tathāgata to teach him. Self-dependent for his knowledge is the Tathāgata, without a master, and that is why it was said by the Tathāgata:
“I have no teacher, and the man
Equal to me does not exist.
No rival to me can be found
In the whole world of gods and men.”’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the Buddha’s teachers.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy. Ở thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình, và đã tôn vinh Ta với sự tôn vinh tột bực.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy. Ở thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.’
Và Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình, và đã tôn vinh Ta với sự tôn vinh tột bực.’ Tuy nhiên, lời nói ấy đã được nói liên quan đến bản thân vị thầy của chính đức Bồ Tát lúc chưa là bậc Chánh Đẳng Giác, trước khi giác ngộ.
Tâu đại vương, năm vị này là những người thầy của đức Bồ Tát lúc chưa là bậc Chánh Đẳng Giác, trước khi giác ngộ. Được chỉ dạy bởi những vị này, đức Bồ Tát đã trải qua ở nơi kia ở nơi nọ. Năm vị nào?
Tâu đại vương, khi đức Bồ Tát ở giai đoạn đã được sanh ra, các vị ấy là tám vị Bà-la-môn đã xét đoán các tướng tốt, tức là các vị Rāma, Dhaja, Lakkhaṇa, Mantī, Yañña, Suyāma, Subhoja, Sudatta. Các vị ấy đã tuyên bố về điềm lành của đức Bồ Tát và đã thực hiện công việc bảo hộ; các vị ấy là những vị thầy đầu tiên.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là vị Bà-la-môn tên Sabbamitta, được sanh ra ở nơi quý phái, cao thượng, có dòng dõi, biết về cú pháp, về văn phạm, có sáu chi phần (của kinh Vệ Đà). Vào lúc bấy giờ, người cha của đức Bồ Tát, đức vua Suddhodana, sau khi rước về đã rưới nước với chiếc bình vàng, rồi đã trao cho (nói rằng): ‘Hãy cho đứa bé trai này học tập;’ đây là vị thầy thứ nhì.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là vị Thiên nhân đã khiến cho đức Bồ Tát chấn động tâm. Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, đức Bồ Tát đã bị chấn động, kinh hoàng, rồi vào chính thời khắc ấy đã ra đi xuất ly và đã xuất gia; đây là vị thầy thứ ba.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là Āḷāra Kālāma; đây là vị thầy thứ tư.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là Uddaka Rāmaputta; đây là vị thầy thứ năm.
Tâu đại vương, đây là năm vị thầy của đức Bồ Tát lúc chưa là bậc Chánh Đẳng Giác, trước khi giác ngộ. Tuy nhiên, các vị này là những người thầy về pháp thế gian. Tâu đại vương, trái lại trong việc thấu triệt trí Toàn Tri về các pháp xuất thế gian này, thì không có vị hướng dẫn nào trội hơn đức Như Lai. Tâu đại vương, đức Như Lai là đấng Tự Chủ, bậc không có thầy.
Bởi lý do ấy, đức Như Lai đã nói rằng:
‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy. Ở thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về trạng thái không có thầy của vị thầy là thứ mười một.
Phẩm Thân Thiết là thứ năm.
(Trong phẩm này có mười một câu hỏi)
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Na me ācariyo atthi,
sadiso me na vijjati;
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ,
natthi me paṭipuggalo’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati.
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ, natthi me paṭipuggalo’ti, tena hi ‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesī’ti, tena hi ‘na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati.
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ, natthi me paṭipuggalo’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, tathāgatena
‘Na me ācariyo atthi,
sadiso me na vijjati;
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ,
natthi me paṭipuggalo’ti.
Bhaṇitañca—
‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṁ maṁ samānaṁ attanā samasamaṁ ṭhapesi, uḷārāya ca maṁ pūjāya pūjesī’ti.
Tañca pana vacanaṁ pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato ācariyabhāvaṁ sandhāya bhāsitaṁ.
Pañcime, mahārāja, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattassa sato ācariyā, yehi anusiṭṭho bodhisatto tattha tattha divasaṁ vītināmesi.
Katame pañca?
Ye te, mahārāja, aṭṭha brāhmaṇā jātamatte bodhisatte lakkhaṇāni pariggaṇhiṁsu, seyyathidaṁ—
rāmo dhajo lakkhaṇo mantī yañño suyāmo subhojo sudattoti.
Te tassa sotthiṁ pavedayitvā rakkhākammaṁ akaṁsu, te ca paṭhamaṁ ācariyā.
Puna caparaṁ, mahārāja, bodhisattassa pitā suddhodano rājā yaṁ tena samayena abhijātaṁ udiccajātimantaṁ padakaṁ veyyākaraṇaṁ chaḷaṅgavantaṁ sabbamittaṁ nāma brāhmaṇaṁ upanetvā sovaṇṇena bhiṅgārena udakaṁ oṇojetvā ‘imaṁ kumāraṁ sikkhāpehī’ti adāsi, ayaṁ dutiyo ācariyo.
Puna caparaṁ, mahārāja, yā sā devatā bodhisattaṁ saṁvejesi, yassā vacanaṁ sutvā bodhisatto saṁviggo ubbiggo tasmiṁyeva khaṇe nekkhammaṁ nikkhamitvā pabbaji, ayaṁ tatiyo ācariyo.
Puna caparaṁ, mahārāja, āḷāro kālāmo ākiñcaññāyatanassa parikammaṁ ācikkhi, ayaṁ catuttho ācariyo.
Puna caparaṁ, mahārāja, udako rāmaputto nevasaññānāsaññāyatanassa parikammaṁ ācikkhi, ayaṁ pañcamo ācariyo.
Ime kho, mahārāja, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattassa sato pañca ācariyā.
Te ca pana ācariyā lokiye dhamme.
Imasmiñca pana, mahārāja, lokuttare dhamme sabbaññutañāṇappaṭivedhāya natthi tathāgatassa anuttaro anusāsako, sayambhū, mahārāja, tathāgato anācariyako, tasmā kāraṇā tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘Na me ācariyo atthi,
sadiso me na vijjati;
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ,
natthi me paṭipuggalo’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Ācariyānācariyapañho ekādasamo.
Santhavavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Imasmiṁ vagge ekādasa pañhā.
Meṇḍakapañho niṭṭhito.