BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi dì mẫu Mahāpajāpati Gotamī đang dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’ Thưa ngài Nāgasena, việc đức Như Lai trong khi bản thân được người dì mẫu của mình dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa đã được bà đích thân nhuộm, đích thân chải, đích thân đập giũ, đích thân cắt, đích thân dệt, lại bảo dâng đến Hội Chúng, phải chăng đức Như Lai không là người quan trọng, không là bậc được kính trọng, không là bậc đáng được cúng dường so với Hội Chúng quý báu? Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai là vượt hẳn Hội Chúng quý báu, hoặc là trội hơn, hay nổi bật, (nghĩ rằng): ‘Khi Ta được dâng cúng thì sẽ có quả báu lớn,’ đức Như Lai không bảo dâng cúng đến Hội Chúng tấm vải choàng tắm mưa đã được người dì mẫu đích thân nhuộm, đích thân chải, đích thân đập giũ. Thưa ngài Nāgasena, (hay) bởi vì đức Như Lai không thu lợi, không gom vào cho bản thân, vì thế đức Như Lai đã bảo người dì mẫu dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi dì mẫu Mahāpajāpati Gotamī đang dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’ Tuy nhiên, điều ấy không vì trạng thái không có quả thành tựu cho người có sự tôn kính, không phải vì tính chất không đáng được cúng dường của bản thân (Ngài), nhưng vì sự lợi ích, vì lòng thương tưởng (nghĩ rằng): ‘Vào thời vị lai xa xôi, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng sẽ được quan tâm.’ Trong khi tán dương các đức tính quả đang được nhận biết, Ngài đã nói như vầy: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’
Tâu đại vương, giống như người cha, ngay trong khi đang còn sống, tuyên dương tánh tốt quả đang được nhận biết ở người con trai trong sự hiện diện của đức vua, ở giữa quan đại thần, nhân công, binh lính, người giữ cổng, lính gác, quần thần, dân chúng (nghĩ rằng): ‘Được xác lập ở đây, thì vào thời vị lai xa xôi sẽ được tôn vinh ở giữa dân chúng.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai vì sự lợi ích, vì lòng thương tưởng (nghĩ rằng): ‘Vào thời vị lai xa xôi, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng sẽ được quan tâm,’ trong khi tuyên dương các đức tính quả đang được nhận biết, đã nói như vầy: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’
Tâu đại vương, nhưng không phải chỉ với chừng ấy việc ban cho tấm vải choàng tắm mưa mà Hội Chúng so với đức Như Lai được gọi là trội hơn, hay nổi bật. Tâu đại vương, giống như người mẹ và cha xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, kỳ cọ cho những đứa con trai. Tâu đại vương, phải chăng chỉ với chừng ấy việc xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, kỳ cọ mà đứa con trai so với mẹ cha được gọi là trội hơn, hay nổi bật?”
BJT 3“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, người mẹ và cha có những đứa con trai thì có những việc cần phải làm không theo ý muốn, vì thế người mẹ và cha thực hiện việc xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, kỳ cọ cho những đứa con trai.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không phải chỉ với chừng ấy việc ban cho tấm vải choàng tắm mưa mà Hội Chúng so với đức Như Lai được gọi là trội hơn, hay nổi bật. Thêm nữa, đức Như Lai, trong khi thực hiện công việc cần phải làm không theo ý muốn, đã bảo người dì mẫu dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam nào đó mang đến tặng phẩm cho đức vua, đức vua có thể cho tặng phẩm ấy đến người nào đó, hoặc là nhân công hoặc binh lính, hoặc tướng lãnh, hoặc vị quân sư. Tâu đại vương, phải chăng chỉ với chừng ấy việc nhận lãnh tặng phẩm mà người đàn ông ấy so với đức vua được gọi là trội hơn, hay nổi bật?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, người đàn ông ấy là người lãnh lương của đức vua, có cuộc sống phụ thuộc vào đức vua. Trong khi đặt để vào vị trí ấy, mà đức vua ban cho tặng phẩm.”
BJT 4“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không phải chỉ với chừng ấy việc ban cho tấm vải choàng tắm mưa mà Hội Chúng so với đức Như Lai được gọi là trội hơn, hay nổi bật, khi ấy (Hội Chúng) là người lãnh lương của đức Như Lai, có cuộc sống phụ thuộc vào đức Như Lai. Trong khi đặt để vào vị trí ấy, mà đức Như Lai đã bảo dâng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng. Tâu đại vương, thêm nữa đức Như Lai đã khởi ý như vầy: ‘Hội chúng là xứng đáng được cúng dường từ trong bản thể, ta sẽ cúng dường đến Hội Chúng với khả năng của mình,’ nên đã bảo dâng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng. Tâu đại vương, đức Như Lai không ca ngợi sự cúng dường đến chính bản thân, khi ấy những vị nào đáng được cúng dường ở thế gian, đức Như Lai cũng ca ngợi sự cúng dường đến các vị ấy.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến trong khi tuyên dương sự thực hành về ít ham muốn ở bài giảng Pháp về sự thừa tự Giáo Pháp ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Majjhimanikāya (Trung Bộ) rằng: ‘Chính vị tỳ khưu đầu tiên ấy, đối với Ta, là đáng được cúng dường hơn và ca tụng hơn.’ Tâu đại vương, ở các cõi không có chúng sanh nào so với đức Như Lai là xứng đáng được cúng dường, hoặc là trội hơn, hay nổi bật. Chính đức Như Lai là vượt hơn, trội hơn, nổi bật.
BJT 5Tâu đại vương, điều này cũng đã được nói đến ở Tương Ưng Bộ quý báu bởi vị Thiên tử Māṇavagāmika khi đứng ở phía trước đức Thế Tôn, giữa chư Thiên và nhân loại rằng:
‘Trong số các núi ở Rājagaha, núi Vipula được gọi là tối thắng. Ở dãy Hi-mã-lạp, núi Seta là tối thắng. Mặt trời (là tối thắng) trong số các thiên thể. Ðại dương là tối thắng trong số các biển cả. Mặt trăng (là tối thắng) trong số các vì tinh tú. Đức Phật được gọi là tối cao ở thế gian luôn cả chư Thiên.’
Tâu đại vương, hơn nữa những lời kệ này đây đã được khéo ca, không phải vụng ca, đã được khéo thuyết, không phải vụng thuyết bởi vị Thiên tử Māṇavagāmika, và đã được đức Thế Tôn chấp thuận. Tâu đại vương, quả vậy trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, cũng đã nói rằng:
‘Chỉ một việc có niềm tịnh tín ở tâm, hoặc việc nghiêng mình, chắp tay, đi đến nương nhờ nơi đức Phật, bậc có sự tiêu diệt binh đội của Ma Vương, có khả năng giúp cho vượt qua (khổ đau).’
Và đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, có một nhân vật, trong khi được sanh ra ở thế gian, được sanh ra vì sự lợi ích của nhiều người, vì sự an lạc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại. Là một nhân vật nào? Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trong khi được sanh ra ở thế gian, được sanh ra vì sự lợi ích của nhiều người, vì sự an lạc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc dâng cúng tấm vải của bà Gotamī là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā mātucchāya mahāpajāpatiyā gotamiyā vassikasāṭikāya dīyamānāya ‘saṅghe, gotami, dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
Kiṁ nu kho, bhante nāgasena, tathāgato saṅgharatanato na bhāriko na garuko na dakkhiṇeyyo, yaṁ tathāgato sakāya mātucchāya sayaṁ piñjitaṁ sayaṁ luñcitaṁ sayaṁ pothitaṁ sayaṁ kantitaṁ sayaṁ vāyitaṁ vassikasāṭikaṁ attano dīyamānaṁ saṅghassa dāpesi.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato saṅgharatanato uttaro bhaveyya adhiko vā visiṭṭho vā, ‘mayi dinne mahapphalaṁ bhavissatī’ti na tathāgato mātucchāya sayaṁ piñjitaṁ sayaṁ luñcitaṁ sayaṁ pothitaṁ vassikasāṭikaṁ saṅghe dāpeyya, yasmā ca kho, bhante nāgasena tathāgato attānaṁ na patthayati na upanissayati, tasmā tathāgato mātucchāya taṁ vassikasāṭikaṁ saṅghassa dāpesī”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā mātucchāya mahāpajāpatiyā gotamiyā vassikasāṭikāya dīyamānāya ‘saṅghe, gotami, dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
Taṁ pana na attano patimānanassa avipākatāya na adakkhiṇeyyatāya, api ca kho, mahārāja, hitatthāya anukampāya anāgatamaddhānaṁ saṅgho mamaccayena cittīkato bhavissatīti vijjamāneyeva guṇe parikittayanto evamāha—
‘saṅghe, gotami, dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
Yathā, mahārāja, pitā dharamānoyeva amaccabhaṭabaladovārikaanīkaṭṭhapārisajjajanamajjhe rañño santike puttassa vijjamānaṁyeva guṇaṁ pakitteti ‘idha ṭhapito anāgatamaddhānaṁ janamajjhe pūjito bhavissatī’ti.
Evameva kho, mahārāja, tathāgato hitatthāya anukampāya anāgatamaddhānaṁ saṅgho mamaccayena cittīkato bhavissatīti vijjamāneyeva guṇe pakittayanto evamāha—
‘saṅghe, gotami, dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
Na kho, mahārāja, tāvatakena vassikasāṭikānuppadānamattakena saṅgho tathāgatato adhiko nāma hoti visiṭṭho vā.
Yathā, mahārāja, mātāpitaro puttānaṁ ucchādenti parimaddanti nahāpenti sambāhenti, api nu kho, mahārāja, tāvatakena ucchādanaparimaddananahāpanasambāhanamattakena ‘putto mātāpitūhi adhiko nāma hoti visiṭṭho vā’”ti?
“Na hi, bhante, akāmakaraṇīyā, bhante, puttā mātāpitūnaṁ, tasmā mātāpitaro puttānaṁ ucchādanaparimaddananahāpanasambāhanaṁ karontī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, na tāvatakena vassikasāṭikānuppadānamattakena saṅgho tathāgatato adhiko nāma hoti visiṭṭho vāti.
Api ca tathāgato akāmakaraṇīyaṁ karonto mātucchāya taṁ vassikasāṭikaṁ saṅghassa dāpesi.
Yathā vā pana, mahārāja, kocideva puriso rañño upāyanaṁ āhareyya, taṁ rājā upāyanaṁ aññatarassa bhaṭassa vā balassa vā senāpatissa vā purohitassa vā dadeyya.
Api nu kho so, mahārāja, puriso tāvatakena upāyanapaṭilābhamattakena raññā adhiko nāma hoti visiṭṭho vā”ti?
“Na hi, bhante, rājabhattiko, bhante, so puriso rājūpajīvī, taṭṭhāne ṭhapento rājā upāyanaṁ detī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, na tāvatakena vassikasāṭikānuppadānamattakena saṅgho tathāgatato adhiko nāma hoti visiṭṭho vā, atha kho tathāgatabhattiko tathāgatūpajīvī.
Taṭṭhāne ṭhapento tathāgato saṅghassa vassikasāṭikaṁ dāpesi.
Api ca, mahārāja, tathāgatassa evaṁ ahosi ‘sabhāvapaṭipūjanīyo saṅgho, mama santakena saṅghaṁ paṭipūjessāmī’ti saṅghassa vassikasāṭikaṁ dāpesi, na, mahārāja, tathāgato attano yeva paṭipūjanaṁ vaṇṇeti, atha kho ye loke paṭipūjanārahā, tesampi tathāgato paṭipūjanaṁ vaṇṇeti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena majjhimanikāyavaralañchake dhammadāyādadhammapariyāye appicchappaṭipattiṁ pakittayamānena ‘asuyeva me purimo bhikkhu pujjataro ca pāsaṁsataro cā’ti.
Natthi, mahārāja, bhavesu koci satto tathāgatato dakkhiṇeyyo vā uttaro vā adhiko vā visiṭṭho vā, tathāgatova uttaro adhiko visiṭṭho.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, saṁyuttanikāyavare māṇavagāmikena devaputtena bhagavato purato ṭhatvā devamanussamajjhe—
‘Vipulo rājagahīyānaṁ,
giri seṭṭho pavuccati;
Seto himavataṁ seṭṭho,
ādicco aghagāminaṁ.
Samuddo udadhinaṁ seṭṭho,
nakkhattānañca candimā;
Sadevakassa lokassa,
buddho aggo pavuccatī’ti.
Tā kho panetā, mahārāja, māṇavagāmikena devaputtena gāthā sugītā na duggītā, subhāsitā na dubbhāsitā, anumatā ca bhagavatā, nanu, mahārāja, therenapi sāriputtena dhammasenāpatinā bhaṇitaṁ—
‘Eko manopasādo,
Saraṇagamanamañjalipaṇāmo vā;
Ussahate tārayituṁ,
Mārabalanisūdane buddhe’ti.
Bhagavatā ca bhaṇitaṁ devātidevena ‘ekapuggalo, bhikkhave, loke uppajjamāno uppajjati bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Katamo ekapuggalo?
Tathāgato arahaṁ sammāsambuddho …pe…
devamanussānan’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Gotamivatthadānapañho dutiyo.
PTS vp Pali 240 PTS cs 10 ‘Venerable Nāgasena, the Blessed One said to his mother’s sister, Mahā-Pajāpatī the Gotamī, when she was about to give him a cloth wrapper for use in the rainy season:
“Give it, O Gotamā, to the Order. If the Order is presented by you with it, then will you have paid homage: thereby alike to the Order and to me.”
‘But what, Nāgasena? Is not the Tathāgata of PTS vp En 52 greater weight and importance, and more worthy of gifts than even the jewel treasure of the Order, that the Tathāgata should have told his aunt, when about to present him with a wrapper for the rainy season which she herself had carded and pressed and beaten and cut and woven, to give it to the Order! If, Nāgasena, the Tathāgata were really higher and greater and more excellent than the Order, then he would have known that a gift given to him would be most meritorious, and therefore would not have told her to give it to the Order. But inasmuch as the Tathāgata, Nāgasena, puts himself not in the way of gifts to himself, gives no occasion for such gifts, you see that he then told his aunt to give that wrapper rather to the Order.’
PTS cs 11 ‘The quotation you make, O king, is correct, and the Blessed One did so direct his aunt’s gifts. But that was not because an act of reverence paid to himself would bear no fruit, or because he was unworthy to receive gifts, but it was out of kindness and mercy that he, thinking: “Thus will the Order in times to come, when I am gone, be highly thought of;” magnified the excellence which the Order really had, in that he said: “Give it, O Gotamī, to the Order. If you present the Order with it, thus will you have paid homage alike to the Order and to me.” Just as a father, O king, while he is yet alive, exalts in the midst of the assembly of ministers, soldiers, and royal messengers, of PTS vp En 53 sentries, body guards, and courtiers —yea, in the presence of the king himself—the virtues which his son really possesses, thinking: “If established here he will be honoured of the people in times to come;” so was it out of mercy and kindness that the Tathāgata, thinking: “Thus will the Order, in times to come, when I am gone, be highly thought of;” magnified the excellence which the Order really had, in that he said: “Give it, O Gotamī, to the Order. If you present the Order with it, thus will you have paid homage alike to the Order and to me.”
PTS cs 12 PTS vp Pali 241 ‘And by the mere gift of a wrapper for the rainy season, the Order, O king, did not become greater than, or superior to, the Tathāgata. just, O king, as when parents anoint their children with perfumes, rub them, bathe them, or shampoo them, does the son by that mere service of theirs become greater than, or superior to, his parents?’
‘Certainly not, sir! Parents deal with their children as they will, whether the children like it or not. And therefore do they anoint them with perfumes, shampoo, or bathe them.’
‘And just so, O king, the Order did not become greater than, or superior to, the Tathāgata merely by the fact of that gift; and although the Tathāgata, whether the Order liked it or not, told his aunt to give the wrapper to the Order.
PTS cs 13 ‘Or suppose, O king, some man should bring a complimentary present to a king, and the king should present that gift to some one else—to a soldier or a PTS vp En 54 messenger, to a general or a chaplain—would that man become greater than, or superior to, the king, merely by the fact that it was he who got the present ?’
‘Certainly not, Sir! That man receives his wage from the king, from the king he gains his livelihood; it was the king who, having placed him in that office, gave him the present.’
‘And just so, O king, the Order did not become greater than, or superior to, the Tathāgata merely by the fact of that gift. The Order is, as it were, the hired servant of the Tathāgata, and gains its livelihood through the Tathāgata. And it was the Tathāgata who, having placed it in that position, caused the gift to be given it.
PTS cs 14 ‘And further the Tathāgata, O king, thought thus: “The Order is by its very nature worthy of gifts. I will therefore have this thing, my property though it be, presented to it,” and so he had the wrapper given to the Order. For the Tathāgata, O king, magnifies not the offering of gifts to himself, but rather to whomsoever in the world is worthy of having gifts presented to him. For this was said, O king, by the Blessed One, the god over all gods, in the most excellent Majjhima Nikāya, PTS vp Pali 242 in the religious discourse entitled Dhamma-dāyāda, when he was exalting the attainment of being content with little:
“He would become the first of my Bhikkhus, the most worthy of presents and of praise.”
PTS cs 15 ‘And there is not, O king, in the three worlds PTS vp En 55 any being whatever more worthy of gifts, greater or more exalted or better, than the Tathāgata. It is the Tathāgata who was greatest and highest and best. As it was said, O king, by Māṇava-gāmika the god, in the most excellent Samyutta Nikāya, as he stood before the Blessed One in the midst of the assembly of gods and men:
“Of all the Rājagaha hills Mount Vipula’s acknowledged chief,
Of the Himalayas Mount White, of planetary orbs the sun,
The ocean of all waters, of constellations bright the moon —
In all the world of gods and men the Buddha’s the acknowledged Lord!”
And those verses of Māṇava the god, O king, were well sung, not wrongly sung, well spoken, not wrongly spoken, and approved by the Blessed One. And was it not said by Sāriputta, the Commander of the faith:
“There is but one Confession, one true Faith,
One Adoration of clasped hands stretched forth
—That paid to Him who routs the Evil One,
And helps us cross the ocean of our ills!” PTS vp En 56
‘And it was said by the Blessed One himself, the god over all gods:
“There is one being, O brethren, who is born into the world for the good and for the weal of the great multitudes, out of mercy to the world, for the advantage and the good and the weal of gods and men. And what is that being? A Tathāgata, an Arahat Buddha supreme.”’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the precedence of the Order over the Buddha.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi dì mẫu Mahāpajāpati Gotamī đang dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’ Thưa ngài Nāgasena, việc đức Như Lai trong khi bản thân được người dì mẫu của mình dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa đã được bà đích thân nhuộm, đích thân chải, đích thân đập giũ, đích thân cắt, đích thân dệt, lại bảo dâng đến Hội Chúng, phải chăng đức Như Lai không là người quan trọng, không là bậc được kính trọng, không là bậc đáng được cúng dường so với Hội Chúng quý báu? Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai là vượt hẳn Hội Chúng quý báu, hoặc là trội hơn, hay nổi bật, (nghĩ rằng): ‘Khi Ta được dâng cúng thì sẽ có quả báu lớn,’ đức Như Lai không bảo dâng cúng đến Hội Chúng tấm vải choàng tắm mưa đã được người dì mẫu đích thân nhuộm, đích thân chải, đích thân đập giũ. Thưa ngài Nāgasena, (hay) bởi vì đức Như Lai không thu lợi, không gom vào cho bản thân, vì thế đức Như Lai đã bảo người dì mẫu dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi dì mẫu Mahāpajāpati Gotamī đang dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’ Tuy nhiên, điều ấy không vì trạng thái không có quả thành tựu cho người có sự tôn kính, không phải vì tính chất không đáng được cúng dường của bản thân (Ngài), nhưng vì sự lợi ích, vì lòng thương tưởng (nghĩ rằng): ‘Vào thời vị lai xa xôi, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng sẽ được quan tâm.’ Trong khi tán dương các đức tính quả đang được nhận biết, Ngài đã nói như vầy: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’
Tâu đại vương, giống như người cha, ngay trong khi đang còn sống, tuyên dương tánh tốt quả đang được nhận biết ở người con trai trong sự hiện diện của đức vua, ở giữa quan đại thần, nhân công, binh lính, người giữ cổng, lính gác, quần thần, dân chúng (nghĩ rằng): ‘Được xác lập ở đây, thì vào thời vị lai xa xôi sẽ được tôn vinh ở giữa dân chúng.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai vì sự lợi ích, vì lòng thương tưởng (nghĩ rằng): ‘Vào thời vị lai xa xôi, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng sẽ được quan tâm,’ trong khi tuyên dương các đức tính quả đang được nhận biết, đã nói như vầy: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’
Tâu đại vương, nhưng không phải chỉ với chừng ấy việc ban cho tấm vải choàng tắm mưa mà Hội Chúng so với đức Như Lai được gọi là trội hơn, hay nổi bật. Tâu đại vương, giống như người mẹ và cha xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, kỳ cọ cho những đứa con trai. Tâu đại vương, phải chăng chỉ với chừng ấy việc xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, kỳ cọ mà đứa con trai so với mẹ cha được gọi là trội hơn, hay nổi bật?”
BJT 3“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, người mẹ và cha có những đứa con trai thì có những việc cần phải làm không theo ý muốn, vì thế người mẹ và cha thực hiện việc xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, kỳ cọ cho những đứa con trai.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không phải chỉ với chừng ấy việc ban cho tấm vải choàng tắm mưa mà Hội Chúng so với đức Như Lai được gọi là trội hơn, hay nổi bật. Thêm nữa, đức Như Lai, trong khi thực hiện công việc cần phải làm không theo ý muốn, đã bảo người dì mẫu dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam nào đó mang đến tặng phẩm cho đức vua, đức vua có thể cho tặng phẩm ấy đến người nào đó, hoặc là nhân công hoặc binh lính, hoặc tướng lãnh, hoặc vị quân sư. Tâu đại vương, phải chăng chỉ với chừng ấy việc nhận lãnh tặng phẩm mà người đàn ông ấy so với đức vua được gọi là trội hơn, hay nổi bật?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, người đàn ông ấy là người lãnh lương của đức vua, có cuộc sống phụ thuộc vào đức vua. Trong khi đặt để vào vị trí ấy, mà đức vua ban cho tặng phẩm.”
BJT 4“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không phải chỉ với chừng ấy việc ban cho tấm vải choàng tắm mưa mà Hội Chúng so với đức Như Lai được gọi là trội hơn, hay nổi bật, khi ấy (Hội Chúng) là người lãnh lương của đức Như Lai, có cuộc sống phụ thuộc vào đức Như Lai. Trong khi đặt để vào vị trí ấy, mà đức Như Lai đã bảo dâng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng. Tâu đại vương, thêm nữa đức Như Lai đã khởi ý như vầy: ‘Hội chúng là xứng đáng được cúng dường từ trong bản thể, ta sẽ cúng dường đến Hội Chúng với khả năng của mình,’ nên đã bảo dâng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng. Tâu đại vương, đức Như Lai không ca ngợi sự cúng dường đến chính bản thân, khi ấy những vị nào đáng được cúng dường ở thế gian, đức Như Lai cũng ca ngợi sự cúng dường đến các vị ấy.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến trong khi tuyên dương sự thực hành về ít ham muốn ở bài giảng Pháp về sự thừa tự Giáo Pháp ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Majjhimanikāya (Trung Bộ) rằng: ‘Chính vị tỳ khưu đầu tiên ấy, đối với Ta, là đáng được cúng dường hơn và ca tụng hơn.’ Tâu đại vương, ở các cõi không có chúng sanh nào so với đức Như Lai là xứng đáng được cúng dường, hoặc là trội hơn, hay nổi bật. Chính đức Như Lai là vượt hơn, trội hơn, nổi bật.
BJT 5Tâu đại vương, điều này cũng đã được nói đến ở Tương Ưng Bộ quý báu bởi vị Thiên tử Māṇavagāmika khi đứng ở phía trước đức Thế Tôn, giữa chư Thiên và nhân loại rằng:
‘Trong số các núi ở Rājagaha, núi Vipula được gọi là tối thắng. Ở dãy Hi-mã-lạp, núi Seta là tối thắng. Mặt trời (là tối thắng) trong số các thiên thể. Ðại dương là tối thắng trong số các biển cả. Mặt trăng (là tối thắng) trong số các vì tinh tú. Đức Phật được gọi là tối cao ở thế gian luôn cả chư Thiên.’
Tâu đại vương, hơn nữa những lời kệ này đây đã được khéo ca, không phải vụng ca, đã được khéo thuyết, không phải vụng thuyết bởi vị Thiên tử Māṇavagāmika, và đã được đức Thế Tôn chấp thuận. Tâu đại vương, quả vậy trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, cũng đã nói rằng:
‘Chỉ một việc có niềm tịnh tín ở tâm, hoặc việc nghiêng mình, chắp tay, đi đến nương nhờ nơi đức Phật, bậc có sự tiêu diệt binh đội của Ma Vương, có khả năng giúp cho vượt qua (khổ đau).’
Và đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, có một nhân vật, trong khi được sanh ra ở thế gian, được sanh ra vì sự lợi ích của nhiều người, vì sự an lạc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại. Là một nhân vật nào? Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trong khi được sanh ra ở thế gian, được sanh ra vì sự lợi ích của nhiều người, vì sự an lạc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc dâng cúng tấm vải của bà Gotamī là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā mātucchāya mahāpajāpatiyā gotamiyā vassikasāṭikāya dīyamānāya ‘saṅghe, gotami, dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
Kiṁ nu kho, bhante nāgasena, tathāgato saṅgharatanato na bhāriko na garuko na dakkhiṇeyyo, yaṁ tathāgato sakāya mātucchāya sayaṁ piñjitaṁ sayaṁ luñcitaṁ sayaṁ pothitaṁ sayaṁ kantitaṁ sayaṁ vāyitaṁ vassikasāṭikaṁ attano dīyamānaṁ saṅghassa dāpesi.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato saṅgharatanato uttaro bhaveyya adhiko vā visiṭṭho vā, ‘mayi dinne mahapphalaṁ bhavissatī’ti na tathāgato mātucchāya sayaṁ piñjitaṁ sayaṁ luñcitaṁ sayaṁ pothitaṁ vassikasāṭikaṁ saṅghe dāpeyya, yasmā ca kho, bhante nāgasena tathāgato attānaṁ na patthayati na upanissayati, tasmā tathāgato mātucchāya taṁ vassikasāṭikaṁ saṅghassa dāpesī”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā mātucchāya mahāpajāpatiyā gotamiyā vassikasāṭikāya dīyamānāya ‘saṅghe, gotami, dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
Taṁ pana na attano patimānanassa avipākatāya na adakkhiṇeyyatāya, api ca kho, mahārāja, hitatthāya anukampāya anāgatamaddhānaṁ saṅgho mamaccayena cittīkato bhavissatīti vijjamāneyeva guṇe parikittayanto evamāha—
‘saṅghe, gotami, dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
Yathā, mahārāja, pitā dharamānoyeva amaccabhaṭabaladovārikaanīkaṭṭhapārisajjajanamajjhe rañño santike puttassa vijjamānaṁyeva guṇaṁ pakitteti ‘idha ṭhapito anāgatamaddhānaṁ janamajjhe pūjito bhavissatī’ti.
Evameva kho, mahārāja, tathāgato hitatthāya anukampāya anāgatamaddhānaṁ saṅgho mamaccayena cittīkato bhavissatīti vijjamāneyeva guṇe pakittayanto evamāha—
‘saṅghe, gotami, dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
Na kho, mahārāja, tāvatakena vassikasāṭikānuppadānamattakena saṅgho tathāgatato adhiko nāma hoti visiṭṭho vā.
Yathā, mahārāja, mātāpitaro puttānaṁ ucchādenti parimaddanti nahāpenti sambāhenti, api nu kho, mahārāja, tāvatakena ucchādanaparimaddananahāpanasambāhanamattakena ‘putto mātāpitūhi adhiko nāma hoti visiṭṭho vā’”ti?
“Na hi, bhante, akāmakaraṇīyā, bhante, puttā mātāpitūnaṁ, tasmā mātāpitaro puttānaṁ ucchādanaparimaddananahāpanasambāhanaṁ karontī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, na tāvatakena vassikasāṭikānuppadānamattakena saṅgho tathāgatato adhiko nāma hoti visiṭṭho vāti.
Api ca tathāgato akāmakaraṇīyaṁ karonto mātucchāya taṁ vassikasāṭikaṁ saṅghassa dāpesi.
Yathā vā pana, mahārāja, kocideva puriso rañño upāyanaṁ āhareyya, taṁ rājā upāyanaṁ aññatarassa bhaṭassa vā balassa vā senāpatissa vā purohitassa vā dadeyya.
Api nu kho so, mahārāja, puriso tāvatakena upāyanapaṭilābhamattakena raññā adhiko nāma hoti visiṭṭho vā”ti?
“Na hi, bhante, rājabhattiko, bhante, so puriso rājūpajīvī, taṭṭhāne ṭhapento rājā upāyanaṁ detī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, na tāvatakena vassikasāṭikānuppadānamattakena saṅgho tathāgatato adhiko nāma hoti visiṭṭho vā, atha kho tathāgatabhattiko tathāgatūpajīvī.
Taṭṭhāne ṭhapento tathāgato saṅghassa vassikasāṭikaṁ dāpesi.
Api ca, mahārāja, tathāgatassa evaṁ ahosi ‘sabhāvapaṭipūjanīyo saṅgho, mama santakena saṅghaṁ paṭipūjessāmī’ti saṅghassa vassikasāṭikaṁ dāpesi, na, mahārāja, tathāgato attano yeva paṭipūjanaṁ vaṇṇeti, atha kho ye loke paṭipūjanārahā, tesampi tathāgato paṭipūjanaṁ vaṇṇeti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena majjhimanikāyavaralañchake dhammadāyādadhammapariyāye appicchappaṭipattiṁ pakittayamānena ‘asuyeva me purimo bhikkhu pujjataro ca pāsaṁsataro cā’ti.
Natthi, mahārāja, bhavesu koci satto tathāgatato dakkhiṇeyyo vā uttaro vā adhiko vā visiṭṭho vā, tathāgatova uttaro adhiko visiṭṭho.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, saṁyuttanikāyavare māṇavagāmikena devaputtena bhagavato purato ṭhatvā devamanussamajjhe—
‘Vipulo rājagahīyānaṁ,
giri seṭṭho pavuccati;
Seto himavataṁ seṭṭho,
ādicco aghagāminaṁ.
Samuddo udadhinaṁ seṭṭho,
nakkhattānañca candimā;
Sadevakassa lokassa,
buddho aggo pavuccatī’ti.
Tā kho panetā, mahārāja, māṇavagāmikena devaputtena gāthā sugītā na duggītā, subhāsitā na dubbhāsitā, anumatā ca bhagavatā, nanu, mahārāja, therenapi sāriputtena dhammasenāpatinā bhaṇitaṁ—
‘Eko manopasādo,
Saraṇagamanamañjalipaṇāmo vā;
Ussahate tārayituṁ,
Mārabalanisūdane buddhe’ti.
Bhagavatā ca bhaṇitaṁ devātidevena ‘ekapuggalo, bhikkhave, loke uppajjamāno uppajjati bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Katamo ekapuggalo?
Tathāgato arahaṁ sammāsambuddho …pe…
devamanussānan’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Gotamivatthadānapañho dutiyo.