BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, cái gì là sự phân biệt giữa người tại gia phá giới và của Sa-môn phá giới? Cái gì là sự khác biệt? Có phải cả hai hạng này đều có cảnh giới tái sanh giống nhau? Có phải cả hai đều có quả thành tựu giống nhau? Hay là có cái gì đó khác nhau?”
“Tâu đại vương, mười đức tính này của vị Sa-môn phá giới là dư thừa cho sự phân biệt với người tại gia phá giới. Và sự cúng dường được trong sạch hơn bởi mười lý do. Mười đức tính nào của vị Sa-môn phá giới là dư thừa cho sự phân biệt với người tại gia phá giới?
Tâu đại vương, ở đây vị Sa-môn phá giới có sự tôn kính đức Phật; có sự tôn kính Giáo Pháp; có sự tôn kính Hội Chúng; có sự tôn kính những vị hành Phạm hạnh; ra sức trong việc đọc tụng và học hỏi; có nhiều sự lắng nghe (đa văn); tâu đại vương, vị có giới bị hỏng, có giới tồi, đi đến tập thể cũng thể hiện tư cách; gìn giữ thân khẩu vì sợ sự chê trách; tâm của vị này có sự hướng đến việc nỗ lực; đã đến gần bản thể Sa-môn của vị tỳ khưu; tâu đại vương, trong khi làm điều ác vị Sa-môn phá giới thực hiện một cách giấu diếm. Tâu đại vương, giống như người nữ có chồng lén lút rồi thực hiện việc sái quấy một cách vô cùng bí mật. Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong khi làm điều ác vị Sa-môn phá giới thực hiện một cách giấu diếm. Tâu đại vương, mười đức tính này của vị Sa-môn phá giới là dư thừa cho sự phân biệt với người tại gia phá giới.
BJT 2Sự cúng dường được trong sạch hơn bởi mười lý do nào? Sự cúng dường được trong sạch do việc mang lớp vỏ bọc không tội lỗi; sự cúng dường được trong sạch do việc mang đặc điểm đầu cạo tóc, là biểu hiện Sa-môn của ẩn sĩ; sự cúng dường được trong sạch do việc đã tham gia vào cuộc hội họp của Hội Chúng; sự cúng dường được trong sạch do việc đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng; sự cúng dường được trong sạch do việc đã cư ngụ ở tập thể có khuynh hướng nỗ lực; sự cúng dường được trong sạch do việc tầm cầu tài sản Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng; sự cúng dường được trong sạch do việc thuyết giảng Giáo Pháp cao quý; sự cúng dường được trong sạch vì mục đích tối hậu là việc đi đến hòn đảo Giáo Pháp; sự cúng dường được trong sạch do có quan điểm hoàn toàn chánh trực về: ‘Đức Phật là cao cả;’ sự cúng dường được trong sạch do việc thọ trì ngày Uposatha. Tâu đại vương, sự cúng dường được trong sạch hơn bởi mười lý do này.
Tâu đại vương, vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ. Tâu đại vương, giống như nước, mặc dầu sền sệt, cũng tẩy sạch bùn, lầy, bụi bặm, vết dơ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như nước nóng, mặc dầu đã được đun sôi dữ dội, cũng dập tắt được đám lửa lớn đang bốc cháy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như thức ăn, mặc dầu vô vị, cũng xua đi sự suy nhược vì cơn đói. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở lời giải thích về sự phân loại cúng dường ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Majjhimanikāya (Trung Bộ) rằng:
‘Người nào có giới hạnh dâng cúng vật thí (do của cải) đã đạt được hợp pháp đến những kẻ có giới hạnh tồi với tâm khéo tịnh tín, trong khi có đức tin thì quả của nghiệp là tột bực; sự cúng dường ấy được trong sạch về phía người thí chủ.’”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Chúng tôi đã hỏi câu hỏi có chừng ấy, thì ngài, trong khi giải thích nó bằng những ví dụ, bằng những lý lẽ, đã khiến cho vị ngọt của Bất Tử được lắng nghe. Thưa ngài, giống như người đầu bếp hoặc học trò của người đầu bếp, sau khi nhận được chừng ấy thịt thì đã sửa soạn với nhiều vật liệu các loại khác nhau, rồi làm ra món ăn cho đức vua. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế chúng tôi đã hỏi câu hỏi có chừng ấy, thì ngài đã khi giải thích nó bằng những ví dụ, bằng những lý lẽ, và đã khiến cho vị ngọt của Bất Tử được lắng nghe.”
Câu hỏi về giới hạnh tồi là thứ tám.
“Bhante nāgasena, gihidussīlassa ca samaṇadussīlassa ca ko viseso, kiṁ nānākaraṇaṁ, ubhopete samasamagatikā, ubhinnampi samasamo vipāko hoti, udāhu kiñci nānākāraṇaṁ atthī”ti?
“Dasayime, mahārāja, guṇā samaṇadussīlassa gihidussīlato visesena atirekā, dasahi ca kāraṇehi uttariṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Katame dasa guṇā samaṇadussīlassa gihidussīlato visesena atirekā?
Idha, mahārāja, samaṇadussīlo buddhe sagāravo hoti, dhamme sagāravo hoti, saṅghe sagāravo hoti, sabrahmacārīsu sagāravo hoti, uddesaparipucchāya vāyamati, savanabahulo hoti, bhinnasīlopi, mahārāja, dussīlo parisagato ākappaṁ upaṭṭhapeti, garahabhayā kāyikaṁ vācasikaṁ rakkhati, padhānābhimukhañcassa hoti cittaṁ, bhikkhusāmaññaṁ upagato hoti.
Karontopi, mahārāja, samaṇadussīlo pāpaṁ paṭicchannaṁ ācarati.
Yathā, mahārāja, itthī sapatikā nilīyitvā rahasseneva pāpamācarati;
evameva kho, mahārāja, karontopi samaṇadussīlo pāpaṁ paṭicchannaṁ ācarati.
Ime kho, mahārāja, dasa guṇā samaṇadussīlassa gihidussīlato visesena atirekā.
Katamehi dasahi kāraṇehi uttariṁ dakkhiṇaṁ visodheti?
Anavajjakavacadhāraṇatāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, isisāmaññabhaṇḍuliṅgadhāraṇatopi dakkhiṇaṁ visodheti, saṅghasamayamanuppaviṭṭhatāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, buddhadhammasaṅghasaraṇagatatāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, padhānāsayaniketavāsitāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, jinasāsanadharapariyesanatopi dakkhiṇaṁ visodheti, pavaradhammadesanatopi dakkhiṇaṁ visodheti, dhammadīpagatiparāyaṇatāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, ‘aggo buddho’ti ekantaujudiṭṭhitāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, uposathasamādānatopi dakkhiṇaṁ visodheti.
Imehi kho, mahārāja, dasahi kāraṇehi uttariṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Suvipannopi hi, mahārāja, samaṇadussīlo dāyakānaṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Yathā, mahārāja, udakaṁ subahalampi kalalakaddamarajojallaṁ apaneti;
evameva kho, mahārāja, suvipannopi samaṇadussīlo dāyakānaṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Yathā vā pana, mahārāja, uṇhodakaṁ sukudhitampi pajjalantaṁ mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpeti;
evameva kho, mahārāja, suvipannopi samaṇadussīlo dāyakānaṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Yathā vā pana, mahārāja, bhojanaṁ virasampi khudādubbalyaṁ apaneti;
evameva kho, mahārāja, suvipannopi samaṇadussīlo dāyakānaṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, tathāgatena devātidevena majjhimanikāyavaralañchake dakkhiṇavibhaṅge veyyākaraṇe—
‘Yo sīlavā dussīlesu dadāti dānaṁ,
Dhammena laddhaṁ supasannacitto;
Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Sā dakkhiṇā dāyakato visujjhatī’”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, abbhutaṁ, bhante nāgasena, tāvatakaṁ mayaṁ pañhaṁ apucchimha, taṁ tvaṁ opammehi kāraṇehi vibhāvento amatamadhuraṁ savanūpagaṁ akāsi.
Yathā nāma, bhante, sūdo vā sūdantevāsī vā tāvatakaṁ maṁsaṁ labhitvā nānāvidhehi sambhārehi sampādetvā rājūpabhogaṁ karoti;
evameva kho, bhante nāgasena, tāvatakaṁ mayaṁ pañhaṁ apucchimha, taṁ tvaṁ opammehi kāraṇehi vibhāvetvā amatamadhuraṁ savanūpagaṁ akāsī”ti.
Dussīlapañho aṭṭhamo.
PTS vp En 82 PTS cs 50 PTS vp Pali 257 ‘Venerable Nāgasena, what is the distinction, what the difference, between a layman who has done wrong, and a Samaṇa (member of the Order) who has done wrong? Will they both be reborn in like condition? Will the like retribution happen to both? Or is there any difference?’
‘There are, O king, ten qualities which abound in the guilty Samaṇa, distinguishing him from the guilty layman. And besides that, in ten ways does the Samaṇa purify the gifts that may be given him.
PTS cs 51 ‘And what are the ten qualities which abound in the guilty Samaṇa, distinguishing him from the guilty layman? the guilty Samaṇa, O king, is full of reverence for the Buddha, for the Law, for the Order, and for his fellow-disciples; he exerts himself in putting questions about, and in recitation of (the sacred texts); he is devoted to learning, though he has done wrong. Then, O king, the guilty one entering the assembly, enters it decently clad, he guards himself alike in body and mind through fear of rebuke, his mind is set upon exerting himself (towards the attainment of Arahatship), he is of the companionship of the brethren. And even, O king, if he does wrong he lives discreetly. just, O king, as a married woman sins only in secret and in privacy, so does the guilty Samaṇa walk discreetly in his wrongdoing. These are the ten qualities, O king, found in the guilty Samaṇa, distinguishing him from the guilty layman.
PTS cs 52 ‘And what are the ten ways in which, besides, PTS vp En 83 he purifies a gift given to him? He purifies it in that he wears an invulnerable coat of mail ; in that he is shorn in the fashion of the characteristic mark of renunciation used by the seers of old ; in that he is one who is included in the multitude of the brethren; in that he has taken his refuge in the Buddha, the Law, and the Order; in that he dwells in a lonely spot suitable for the exertion (after Arahatship); in that he seeks after the treasure of the teaching of the Conquerors; in that he preaches the most excellent law (Dhamma); in that his final destiny is to be reborn in the island of truth ; in that he is possessed of an honest belief that the Buddha is the chief of all beings; in that he has taken upon himself the keeping of the Uposatha day. These, O king, are the ten ways in which, besides, he purifies a gift given to him.
PTS cs 53 PTS vp Pali 258 ‘Even, O king, when thoroughly fallen, a guilty Samaṇa yet sanctifies the gifts of the supporters of the faith—just as water, however thick, will wash away slush and mud and dirt and stains—just as hot, and even boiling water will put a mighty blazing fire out—just as food, however nasty, will allay the faintness of hunger. For thus, O king, hath it been said by the god over all gods in the most excellent Majjhima Nikāya in the chapter “On gifts:”
PTS vp En 84 “Whene’er a good man, with believing heart,
Presents what he hath earned in righteousness
To th’ unrighteous—in full confidence
On the great fruit to follow the good act—
Such gift is, by the giver, sanctified.”’
‘Most wonderful, Nāgasena, and most strange! We asked you a mere ordinary question, and you, expounding it with reasons and with similes, have filled, as it were, the hearer with the sweet taste of the nectar (of Nirvāṇa). just as a cook, or a cook’s apprentice, taking a piece of ordinary nutmeg, will, treating it with various ingredients, prepare a dish for a king—so, Nāgasena, when we asked you an ordinary question, have you, expounding it with reasons and similes, filled the hearer with the sweet taste of the nectar of Nirvāṇa.’
Here ends the dilemma as to the guilty recluse.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, cái gì là sự phân biệt giữa người tại gia phá giới và của Sa-môn phá giới? Cái gì là sự khác biệt? Có phải cả hai hạng này đều có cảnh giới tái sanh giống nhau? Có phải cả hai đều có quả thành tựu giống nhau? Hay là có cái gì đó khác nhau?”
“Tâu đại vương, mười đức tính này của vị Sa-môn phá giới là dư thừa cho sự phân biệt với người tại gia phá giới. Và sự cúng dường được trong sạch hơn bởi mười lý do. Mười đức tính nào của vị Sa-môn phá giới là dư thừa cho sự phân biệt với người tại gia phá giới?
Tâu đại vương, ở đây vị Sa-môn phá giới có sự tôn kính đức Phật; có sự tôn kính Giáo Pháp; có sự tôn kính Hội Chúng; có sự tôn kính những vị hành Phạm hạnh; ra sức trong việc đọc tụng và học hỏi; có nhiều sự lắng nghe (đa văn); tâu đại vương, vị có giới bị hỏng, có giới tồi, đi đến tập thể cũng thể hiện tư cách; gìn giữ thân khẩu vì sợ sự chê trách; tâm của vị này có sự hướng đến việc nỗ lực; đã đến gần bản thể Sa-môn của vị tỳ khưu; tâu đại vương, trong khi làm điều ác vị Sa-môn phá giới thực hiện một cách giấu diếm. Tâu đại vương, giống như người nữ có chồng lén lút rồi thực hiện việc sái quấy một cách vô cùng bí mật. Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong khi làm điều ác vị Sa-môn phá giới thực hiện một cách giấu diếm. Tâu đại vương, mười đức tính này của vị Sa-môn phá giới là dư thừa cho sự phân biệt với người tại gia phá giới.
BJT 2Sự cúng dường được trong sạch hơn bởi mười lý do nào? Sự cúng dường được trong sạch do việc mang lớp vỏ bọc không tội lỗi; sự cúng dường được trong sạch do việc mang đặc điểm đầu cạo tóc, là biểu hiện Sa-môn của ẩn sĩ; sự cúng dường được trong sạch do việc đã tham gia vào cuộc hội họp của Hội Chúng; sự cúng dường được trong sạch do việc đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng; sự cúng dường được trong sạch do việc đã cư ngụ ở tập thể có khuynh hướng nỗ lực; sự cúng dường được trong sạch do việc tầm cầu tài sản Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng; sự cúng dường được trong sạch do việc thuyết giảng Giáo Pháp cao quý; sự cúng dường được trong sạch vì mục đích tối hậu là việc đi đến hòn đảo Giáo Pháp; sự cúng dường được trong sạch do có quan điểm hoàn toàn chánh trực về: ‘Đức Phật là cao cả;’ sự cúng dường được trong sạch do việc thọ trì ngày Uposatha. Tâu đại vương, sự cúng dường được trong sạch hơn bởi mười lý do này.
Tâu đại vương, vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ. Tâu đại vương, giống như nước, mặc dầu sền sệt, cũng tẩy sạch bùn, lầy, bụi bặm, vết dơ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như nước nóng, mặc dầu đã được đun sôi dữ dội, cũng dập tắt được đám lửa lớn đang bốc cháy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như thức ăn, mặc dầu vô vị, cũng xua đi sự suy nhược vì cơn đói. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở lời giải thích về sự phân loại cúng dường ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Majjhimanikāya (Trung Bộ) rằng:
‘Người nào có giới hạnh dâng cúng vật thí (do của cải) đã đạt được hợp pháp đến những kẻ có giới hạnh tồi với tâm khéo tịnh tín, trong khi có đức tin thì quả của nghiệp là tột bực; sự cúng dường ấy được trong sạch về phía người thí chủ.’”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Chúng tôi đã hỏi câu hỏi có chừng ấy, thì ngài, trong khi giải thích nó bằng những ví dụ, bằng những lý lẽ, đã khiến cho vị ngọt của Bất Tử được lắng nghe. Thưa ngài, giống như người đầu bếp hoặc học trò của người đầu bếp, sau khi nhận được chừng ấy thịt thì đã sửa soạn với nhiều vật liệu các loại khác nhau, rồi làm ra món ăn cho đức vua. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế chúng tôi đã hỏi câu hỏi có chừng ấy, thì ngài đã khi giải thích nó bằng những ví dụ, bằng những lý lẽ, và đã khiến cho vị ngọt của Bất Tử được lắng nghe.”
Câu hỏi về giới hạnh tồi là thứ tám.
“Bhante nāgasena, gihidussīlassa ca samaṇadussīlassa ca ko viseso, kiṁ nānākaraṇaṁ, ubhopete samasamagatikā, ubhinnampi samasamo vipāko hoti, udāhu kiñci nānākāraṇaṁ atthī”ti?
“Dasayime, mahārāja, guṇā samaṇadussīlassa gihidussīlato visesena atirekā, dasahi ca kāraṇehi uttariṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Katame dasa guṇā samaṇadussīlassa gihidussīlato visesena atirekā?
Idha, mahārāja, samaṇadussīlo buddhe sagāravo hoti, dhamme sagāravo hoti, saṅghe sagāravo hoti, sabrahmacārīsu sagāravo hoti, uddesaparipucchāya vāyamati, savanabahulo hoti, bhinnasīlopi, mahārāja, dussīlo parisagato ākappaṁ upaṭṭhapeti, garahabhayā kāyikaṁ vācasikaṁ rakkhati, padhānābhimukhañcassa hoti cittaṁ, bhikkhusāmaññaṁ upagato hoti.
Karontopi, mahārāja, samaṇadussīlo pāpaṁ paṭicchannaṁ ācarati.
Yathā, mahārāja, itthī sapatikā nilīyitvā rahasseneva pāpamācarati;
evameva kho, mahārāja, karontopi samaṇadussīlo pāpaṁ paṭicchannaṁ ācarati.
Ime kho, mahārāja, dasa guṇā samaṇadussīlassa gihidussīlato visesena atirekā.
Katamehi dasahi kāraṇehi uttariṁ dakkhiṇaṁ visodheti?
Anavajjakavacadhāraṇatāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, isisāmaññabhaṇḍuliṅgadhāraṇatopi dakkhiṇaṁ visodheti, saṅghasamayamanuppaviṭṭhatāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, buddhadhammasaṅghasaraṇagatatāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, padhānāsayaniketavāsitāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, jinasāsanadharapariyesanatopi dakkhiṇaṁ visodheti, pavaradhammadesanatopi dakkhiṇaṁ visodheti, dhammadīpagatiparāyaṇatāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, ‘aggo buddho’ti ekantaujudiṭṭhitāyapi dakkhiṇaṁ visodheti, uposathasamādānatopi dakkhiṇaṁ visodheti.
Imehi kho, mahārāja, dasahi kāraṇehi uttariṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Suvipannopi hi, mahārāja, samaṇadussīlo dāyakānaṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Yathā, mahārāja, udakaṁ subahalampi kalalakaddamarajojallaṁ apaneti;
evameva kho, mahārāja, suvipannopi samaṇadussīlo dāyakānaṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Yathā vā pana, mahārāja, uṇhodakaṁ sukudhitampi pajjalantaṁ mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpeti;
evameva kho, mahārāja, suvipannopi samaṇadussīlo dāyakānaṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Yathā vā pana, mahārāja, bhojanaṁ virasampi khudādubbalyaṁ apaneti;
evameva kho, mahārāja, suvipannopi samaṇadussīlo dāyakānaṁ dakkhiṇaṁ visodheti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, tathāgatena devātidevena majjhimanikāyavaralañchake dakkhiṇavibhaṅge veyyākaraṇe—
‘Yo sīlavā dussīlesu dadāti dānaṁ,
Dhammena laddhaṁ supasannacitto;
Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Sā dakkhiṇā dāyakato visujjhatī’”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, abbhutaṁ, bhante nāgasena, tāvatakaṁ mayaṁ pañhaṁ apucchimha, taṁ tvaṁ opammehi kāraṇehi vibhāvento amatamadhuraṁ savanūpagaṁ akāsi.
Yathā nāma, bhante, sūdo vā sūdantevāsī vā tāvatakaṁ maṁsaṁ labhitvā nānāvidhehi sambhārehi sampādetvā rājūpabhogaṁ karoti;
evameva kho, bhante nāgasena, tāvatakaṁ mayaṁ pañhaṁ apucchimha, taṁ tvaṁ opammehi kāraṇehi vibhāvetvā amatamadhuraṁ savanūpagaṁ akāsī”ti.
Dussīlapañho aṭṭhamo.