BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, khi đức Bồ Tát thực hiện hành động khó thực hành (khổ hạnh), không nơi nào khác đã có sự nỗ lực, sự cố gắng, sự chiến đấu với phiền não, sự làm tiêu tan đạo binh của Thần Chết, sự kiêng vật thực, các hành động khó thực hành như thế này. Ở sự gắng sức có hình thức như thế, đức Bồ Tát đã không đạt được bất cứ sự khoái lạc nào, đã bỏ rơi chính tâm ý ấy, và đã nói như vầy: ‘Tuy nhiên, với việc khổ hạnh dữ dội này Ta không chứng đắc các pháp thượng nhân, là pháp đặc biệt thuộc về trí tuệ và sự thấy biết xứng đáng bậc Thánh. Có thể có chăng đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?’ Sau khi nhàm chán với việc ấy, bằng một đạo lộ khác Ngài đã đạt đến bản thể Toàn Tri, rồi cũng vẫn chỉ dạy, khuyến khích các đệ tử về đường lối thực hành ấy rằng:
‘Các ngươi hãy nỗ lực, hãy cố gắng, hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật. Các ngươi hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tợ như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.’
Thưa ngài Nāgasena, bởi vì lý do gì đức Thế Tôn lại chỉ dạy, khuyến khích các đệ tử về đường lối thực hành mà bản thân Ngài đã nhàm chán, có vẻ không còn quyến luyến về việc ấy?”
BJT 2“Tâu đại vương, lúc ấy cũng như hiện nay việc ấy vẫn là đường lối thực hành. Sau khi thực hành chính đường lối thực hành ấy, đức Bồ Tát đã đạt đến bản thể Toàn Tri. Tâu đại vương, thêm nữa đức Bồ Tát trong khi thực hành tinh tấn tột độ đã ngưng lại vật thực không còn chút gì, do việc buộc ngưng lại vật thực của vị ấy mà sự yếu đuối của tâm đã sanh khởi. Do sự yếu đuối ấy, vị ấy đã không thể đạt được bản thể Toàn Tri. Trong khi sử dụng lại từng chút từng chút vật thực đã được vắt thành nắm, rồi với chính đường lối thực hành ấy không bao lâu sau, vị ấy đã đạt được bản thể Toàn Tri. Tâu đại vương, chính đường lối thực hành ấy đưa đến sự đạt được Trí Toàn Tri của tất cả các đức Như Lai.
Tâu đại vương, giống như vật thực là sự nâng đỡ cho tất cả chúng sanh, được nương tựa vào vật thực mà tất cả chúng sanh nhận được sự an lạc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế chính đường lối thực hành ấy đưa đến sự đạt được Trí Toàn Tri của tất cả các đức Như Lai. Tâu đại vương, sự sai trái khiến đức Như Lai, vào thời điểm ấy, đã không đạt được Trí Toàn Tri không phải ở sự nỗ lực, không phải ở sự cố gắng, không phải ở sự chiến đấu với phiền não; nhưng sự sai trái ấy chính là ở việc buộc ngưng lại vật thực. Chính đường lối thực hành ấy luôn luôn được sẵn sàng.
Tâu đại vương, giống như người nam có thể đi rất nhanh đoạn đường dài, vì thế người ấy có thể bị tổn thương một bên (hông), hoặc có sự đi khập khiểng không tự đi lại được ở trên bề mặt trái đất. Tâu đại vương, chẳng lẽ đại địa cầu cũng có sự sai trái khiến cho người nam ấy đã bị tổn thương một bên (hông)?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, đại địa cầu luôn luôn được sẵn sàng. Do đâu mà nó có sự sai trái? Sự sai trái ấy chính là ở sự ra sức, vì nó mà người nam ấy đã tổn thương một bên (hông).”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự sai trái khiến đức Như Lai, vào thời điểm ấy, đã không đạt được Trí Toàn Tri không phải ở sự nỗ lực, không phải ở sự cố gắng, không phải ở sự chiến đấu với phiền não; nhưng sự sai trái ấy chính là ở việc buộc ngưng lại vật thực. Chính đường lối thực hành ấy luôn luôn được sẵn sàng.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam quấn vào tấm vải choàng bị lấm lem, người ấy không cho giặt sạch nó; sự sai trái ấy không phải là của nước; nước luôn luôn được sẵn sàng. Sự sai trái ấy là của chính người ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự sai trái khiến đức Như Lai, vào thời điểm ấy, đã không đạt được Trí Toàn Tri không phải ở sự nỗ lực, không phải ở sự cố gắng, không phải ở sự chiến đấu với phiền não; nhưng sự sai trái ấy chính là ở việc buộc ngưng lại vật thực. Chính đường lối thực hành ấy luôn luôn được sẵn sàng. Vì thế, đức Như Lai chỉ dạy, khuyến khích các đệ tử về chính đường lối thực hành ấy. Tâu đại vương, như vậy đường lối thực hành ấy luôn luôn được sẵn sàng, không có tội lỗi.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự sai trái trong đường lối thực hành là thứ tư.
“Bhante nāgasena, yadā bodhisatto dukkarakārikaṁ akāsi, netādiso aññatra ārambho ahosi nikkamo kilesayuddhaṁ maccusenaṁ vidhamanaṁ āhārapariggaho dukkarakārikā, evarūpe parakkame kiñci assādaṁ alabhitvā tameva cittaṁ parihāpetvā evamavoca ‘na kho panāhaṁ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya adhigacchāmi uttari manussadhammaṁ alamariyañāṇadassanavisesaṁ, siyā nu kho añño maggo bodhāyā’ti, tato nibbinditvā aññena maggena sabbaññutaṁ patto, puna tāya paṭipadāya sāvake anusāsati samādapeti.
‘Ārambhatha nikkhamatha,
yuñjatha buddhasāsane;
Dhunātha maccuno senaṁ,
naḷāgāraṁva kuñjaro’ti.
Kena nu kho, bhante nāgasena, kāraṇena tathāgato yāya paṭipadāya attanā nibbinno virattarūpo, tattha sāvake anusāsati samādapetī”ti?
“Tadāpi, mahārāja, etarahipi sāyeva paṭipadā, taṁyeva paṭipadaṁ paṭipajjitvā bodhisatto sabbaññutaṁ patto.
Api ca, mahārāja, bodhisatto ativīriyaṁ karonto niravasesato āhāraṁ uparundhi.
Tassa āhārūparodhena cittadubbalyaṁ uppajji.
So tena dubbalyena nāsakkhi sabbaññutaṁ pāpuṇituṁ, so mattamattaṁ kabaḷīkārāhāraṁ sevanto tāyeva paṭipadāya nacirasseva sabbaññutaṁ pāpuṇi.
Sāyeva, mahārāja, paṭipadā sabbesaṁ tathāgatānaṁ sabbaññutañāṇappaṭilābhāya.
Yathā, mahārāja, sabbesaṁ sattānaṁ āhāro upatthambho, āhārūpanissitā sabbe sattā sukhaṁ anubhavanti;
evameva kho, mahārāja, sāyeva paṭipadā sabbesaṁ tathāgatānaṁ sabbaññutañāṇappaṭilābhāya, neso, mahārāja, doso ārambhassa, na nikkamassa, na kilesayuddhassa, yena tathāgato tasmiṁ samaye na pāpuṇi sabbaññutañāṇaṁ, atha kho āhārūparodhasseveso doso, sadā paṭiyattā yevesā paṭipadā.
Yathā, mahārāja, puriso addhānaṁ ativegena gaccheyya, tena so pakkhahato vā bhaveyya pīṭhasappī vā asañcaro pathavitale.
Api nu kho, mahārāja, mahāpathaviyā doso atthi, yena so puriso pakkhahato ahosī”ti?
“Na hi, bhante;
sadā paṭiyattā, bhante, mahāpathavī, kuto tassā doso?
Vāyāmasseveso doso, yena so puriso pakkhahato ahosī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, neso doso ārambhassa, na nikkamassa, na kilesayuddhassa, yena tathāgato tasmiṁ samaye na pāpuṇi sabbaññutañāṇaṁ, atha kho āhārūparodhasseveso doso sadā paṭiyattā yevesā paṭipadā.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso kiliṭṭhaṁ sāṭakaṁ nivāseyya, na so taṁ dhovāpeyya, neso doso udakassa, sadā paṭiyattaṁ udakaṁ.
Purisasseveso doso.
Evameva kho, mahārāja, neso doso ārambhassa, na nikkamassa, na kilesayuddhassa, yena tathāgato tasmiṁ samaye na pāpuṇi sabbaññutañāṇaṁ, atha kho āhārūparodhasseveso doso, sadā paṭiyattā yevesā paṭipadā, tasmā tathāgato tāyeva paṭipadāya sāvake anusāsati samādapeti, evaṁ kho, mahārāja, sadā paṭiyattā anavajjā sā paṭipadā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Paṭipadādosapañho catuttho.
PTS vp En 60
PTS cs 20 ‘Venerable Nāgasena, when the Bodisat was practising austerity, then there was found no other exertion the like of his, no such power, no such battling against evil, no such putting to rout of the armies of the Evil One, no such abstinence in food, no such austerity of life. But finding no satisfaction in strife like that, he abandoned that idea, saying:
“Not even by this cruel asceticism am I reaching the peculiar faculty, beyond the power of man, arising from insight into the knowledge of that which is fit and noble. May there not be now some other way to wisdom ?”
‘But then, when weary of that path he had by another way attained to omniscience, he, on the other hand, thus again exhorted and instructed his disciple in that path (he had left, saying):
PTS vp Pali 245 “Exert yourselves, be strong, and to the faith
The Buddhas taught devote yourselves with zeal.
As a strong elephant a house of reeds,
Shake down the armies of the Evil One. PTS vp En 61
‘Now what, Nāgasena, is the reason that the Tathāgata exhorted and led his disciples to that path which he had himself abandoned, which he loathed?’
PTS cs 21 ‘Both then also, O king, and now too, that is still the only path. And it is along that path that the Bodisat attained to Buddhahood. Although the Bodisat, O king, exerting himself strenuously, reduced the food he took till he had decreased it to nothing at all, and by that disuse of food he became weak in mind, yet when he returned little by little to the use of solid food, it was by that path that before long he attained to Buddhahood. And that only has been the path along which all the Tathāgatas reached to the attainment of the insight of omniscience. Just as food is the support of all beings, as it is in dependence on food that all beings live at ease, just so is that the path of all the Tathāgatas to the attainment of the insight of omniscience. The fault was not, O king, in the exertion, was not in the power, not in the battle waged against evil, that the Tathāgata did not then, at once, attain to Buddhahood. But the fault was in the disuse of food, and the path itself (of austerity) was always ready for use.
PTS cs 22 ‘Suppose, O king, that a man should follow a path in great haste, and by that haste his sides PTS vp En 62 should give way, or he should fall a cripple on the ground, unable to move, would there then be any fault, O king, in the broad earth that that man’s sides had given way?’
‘Certainly not, Sir! the great earth is always ready. How should it be in fault? the fault was in the man’s own zeal which made him fail.’
‘And just even so, O king, the fault was not in the exertion, not in the power, not in the battle waged against evil, that the Tathāgata did not then, at once, attain to Buddhahood. But the fault was in the disuse of food, and the path itself was always ready—PTS vp Pali 246 just as if a man should wear a robe, and never have it washed, the fault would not be in the water, which would always be ready for use, but in the man himself. That is why the Tathāgata exhorted and led his disciples along that very path. For that path, O king, is always ready, always right.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the path.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, khi đức Bồ Tát thực hiện hành động khó thực hành (khổ hạnh), không nơi nào khác đã có sự nỗ lực, sự cố gắng, sự chiến đấu với phiền não, sự làm tiêu tan đạo binh của Thần Chết, sự kiêng vật thực, các hành động khó thực hành như thế này. Ở sự gắng sức có hình thức như thế, đức Bồ Tát đã không đạt được bất cứ sự khoái lạc nào, đã bỏ rơi chính tâm ý ấy, và đã nói như vầy: ‘Tuy nhiên, với việc khổ hạnh dữ dội này Ta không chứng đắc các pháp thượng nhân, là pháp đặc biệt thuộc về trí tuệ và sự thấy biết xứng đáng bậc Thánh. Có thể có chăng đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?’ Sau khi nhàm chán với việc ấy, bằng một đạo lộ khác Ngài đã đạt đến bản thể Toàn Tri, rồi cũng vẫn chỉ dạy, khuyến khích các đệ tử về đường lối thực hành ấy rằng:
‘Các ngươi hãy nỗ lực, hãy cố gắng, hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật. Các ngươi hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tợ như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.’
Thưa ngài Nāgasena, bởi vì lý do gì đức Thế Tôn lại chỉ dạy, khuyến khích các đệ tử về đường lối thực hành mà bản thân Ngài đã nhàm chán, có vẻ không còn quyến luyến về việc ấy?”
BJT 2“Tâu đại vương, lúc ấy cũng như hiện nay việc ấy vẫn là đường lối thực hành. Sau khi thực hành chính đường lối thực hành ấy, đức Bồ Tát đã đạt đến bản thể Toàn Tri. Tâu đại vương, thêm nữa đức Bồ Tát trong khi thực hành tinh tấn tột độ đã ngưng lại vật thực không còn chút gì, do việc buộc ngưng lại vật thực của vị ấy mà sự yếu đuối của tâm đã sanh khởi. Do sự yếu đuối ấy, vị ấy đã không thể đạt được bản thể Toàn Tri. Trong khi sử dụng lại từng chút từng chút vật thực đã được vắt thành nắm, rồi với chính đường lối thực hành ấy không bao lâu sau, vị ấy đã đạt được bản thể Toàn Tri. Tâu đại vương, chính đường lối thực hành ấy đưa đến sự đạt được Trí Toàn Tri của tất cả các đức Như Lai.
Tâu đại vương, giống như vật thực là sự nâng đỡ cho tất cả chúng sanh, được nương tựa vào vật thực mà tất cả chúng sanh nhận được sự an lạc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế chính đường lối thực hành ấy đưa đến sự đạt được Trí Toàn Tri của tất cả các đức Như Lai. Tâu đại vương, sự sai trái khiến đức Như Lai, vào thời điểm ấy, đã không đạt được Trí Toàn Tri không phải ở sự nỗ lực, không phải ở sự cố gắng, không phải ở sự chiến đấu với phiền não; nhưng sự sai trái ấy chính là ở việc buộc ngưng lại vật thực. Chính đường lối thực hành ấy luôn luôn được sẵn sàng.
Tâu đại vương, giống như người nam có thể đi rất nhanh đoạn đường dài, vì thế người ấy có thể bị tổn thương một bên (hông), hoặc có sự đi khập khiểng không tự đi lại được ở trên bề mặt trái đất. Tâu đại vương, chẳng lẽ đại địa cầu cũng có sự sai trái khiến cho người nam ấy đã bị tổn thương một bên (hông)?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, đại địa cầu luôn luôn được sẵn sàng. Do đâu mà nó có sự sai trái? Sự sai trái ấy chính là ở sự ra sức, vì nó mà người nam ấy đã tổn thương một bên (hông).”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự sai trái khiến đức Như Lai, vào thời điểm ấy, đã không đạt được Trí Toàn Tri không phải ở sự nỗ lực, không phải ở sự cố gắng, không phải ở sự chiến đấu với phiền não; nhưng sự sai trái ấy chính là ở việc buộc ngưng lại vật thực. Chính đường lối thực hành ấy luôn luôn được sẵn sàng.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam quấn vào tấm vải choàng bị lấm lem, người ấy không cho giặt sạch nó; sự sai trái ấy không phải là của nước; nước luôn luôn được sẵn sàng. Sự sai trái ấy là của chính người ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự sai trái khiến đức Như Lai, vào thời điểm ấy, đã không đạt được Trí Toàn Tri không phải ở sự nỗ lực, không phải ở sự cố gắng, không phải ở sự chiến đấu với phiền não; nhưng sự sai trái ấy chính là ở việc buộc ngưng lại vật thực. Chính đường lối thực hành ấy luôn luôn được sẵn sàng. Vì thế, đức Như Lai chỉ dạy, khuyến khích các đệ tử về chính đường lối thực hành ấy. Tâu đại vương, như vậy đường lối thực hành ấy luôn luôn được sẵn sàng, không có tội lỗi.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự sai trái trong đường lối thực hành là thứ tư.
“Bhante nāgasena, yadā bodhisatto dukkarakārikaṁ akāsi, netādiso aññatra ārambho ahosi nikkamo kilesayuddhaṁ maccusenaṁ vidhamanaṁ āhārapariggaho dukkarakārikā, evarūpe parakkame kiñci assādaṁ alabhitvā tameva cittaṁ parihāpetvā evamavoca ‘na kho panāhaṁ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya adhigacchāmi uttari manussadhammaṁ alamariyañāṇadassanavisesaṁ, siyā nu kho añño maggo bodhāyā’ti, tato nibbinditvā aññena maggena sabbaññutaṁ patto, puna tāya paṭipadāya sāvake anusāsati samādapeti.
‘Ārambhatha nikkhamatha,
yuñjatha buddhasāsane;
Dhunātha maccuno senaṁ,
naḷāgāraṁva kuñjaro’ti.
Kena nu kho, bhante nāgasena, kāraṇena tathāgato yāya paṭipadāya attanā nibbinno virattarūpo, tattha sāvake anusāsati samādapetī”ti?
“Tadāpi, mahārāja, etarahipi sāyeva paṭipadā, taṁyeva paṭipadaṁ paṭipajjitvā bodhisatto sabbaññutaṁ patto.
Api ca, mahārāja, bodhisatto ativīriyaṁ karonto niravasesato āhāraṁ uparundhi.
Tassa āhārūparodhena cittadubbalyaṁ uppajji.
So tena dubbalyena nāsakkhi sabbaññutaṁ pāpuṇituṁ, so mattamattaṁ kabaḷīkārāhāraṁ sevanto tāyeva paṭipadāya nacirasseva sabbaññutaṁ pāpuṇi.
Sāyeva, mahārāja, paṭipadā sabbesaṁ tathāgatānaṁ sabbaññutañāṇappaṭilābhāya.
Yathā, mahārāja, sabbesaṁ sattānaṁ āhāro upatthambho, āhārūpanissitā sabbe sattā sukhaṁ anubhavanti;
evameva kho, mahārāja, sāyeva paṭipadā sabbesaṁ tathāgatānaṁ sabbaññutañāṇappaṭilābhāya, neso, mahārāja, doso ārambhassa, na nikkamassa, na kilesayuddhassa, yena tathāgato tasmiṁ samaye na pāpuṇi sabbaññutañāṇaṁ, atha kho āhārūparodhasseveso doso, sadā paṭiyattā yevesā paṭipadā.
Yathā, mahārāja, puriso addhānaṁ ativegena gaccheyya, tena so pakkhahato vā bhaveyya pīṭhasappī vā asañcaro pathavitale.
Api nu kho, mahārāja, mahāpathaviyā doso atthi, yena so puriso pakkhahato ahosī”ti?
“Na hi, bhante;
sadā paṭiyattā, bhante, mahāpathavī, kuto tassā doso?
Vāyāmasseveso doso, yena so puriso pakkhahato ahosī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, neso doso ārambhassa, na nikkamassa, na kilesayuddhassa, yena tathāgato tasmiṁ samaye na pāpuṇi sabbaññutañāṇaṁ, atha kho āhārūparodhasseveso doso sadā paṭiyattā yevesā paṭipadā.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso kiliṭṭhaṁ sāṭakaṁ nivāseyya, na so taṁ dhovāpeyya, neso doso udakassa, sadā paṭiyattaṁ udakaṁ.
Purisasseveso doso.
Evameva kho, mahārāja, neso doso ārambhassa, na nikkamassa, na kilesayuddhassa, yena tathāgato tasmiṁ samaye na pāpuṇi sabbaññutañāṇaṁ, atha kho āhārūparodhasseveso doso, sadā paṭiyattā yevesā paṭipadā, tasmā tathāgato tāyeva paṭipadāya sāvake anusāsati samādapeti, evaṁ kho, mahārāja, sadā paṭiyattā anavajjā sā paṭipadā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Paṭipadādosapañho catuttho.