BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Vị A-la-hán nhận biết một cảm thọ, thuộc thân không thuộc tâm.’ Thưa ngài Nāgasena, việc mà tâm của vị A-la-hán vận hành nương vào thân, vậy có phải vị A-la-hán không phải là chúa tể, không phải là người chủ, không có quyền hành ở nơi ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, việc vị ấy không phải là chúa tể, không phải là người chủ, không có quyền hành đối với tâm của mình trong khi thân đang được vận hành là không đúng. Thậm chí con chim cho đến khi nào còn trú ở nơi tổ chim, thì nó là chúa tể, là người chủ, là có quyền hành ở nơi ấy. ”
BJT 2“Tâu đại vương, mười pháp này đi theo thân, chạy theo, vận hành theo thân ở mỗi một kiếp sống. Mười pháp nào? Lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, dã dượi buồn ngủ, già, bệnh, chết. Tâu đại vương, đây là mười pháp đi theo thân, chạy theo, vận hành theo thân ở mỗi một kiếp sống. Vị A-la-hán không phải là chúa tể, không phải là người chủ, không có quyền hành ở nơi ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà đối với vị A-la-hán, mệnh lệnh hay là uy quyền không vận hành ở thân? Về việc này, xin ngài hãy nói cho trẫm lý do.”
“Tâu đại vương, giống như những chúng sanh nào đó là được nương tựa vào trái đất, tất cả bọn họ nương vào trái đất mà di chuyển, sinh sống, quyết định lối cư xử. Tâu đại vương, phải chăng mệnh lệnh hay là uy quyền của những người ấy vận hành ở trái đất?”
“Thưa ngài, tất nhiên không.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế tâm của vị A-la-hán vận hành nương vào thân. Tuy nhiên, đối với vị A-la-hán mệnh lệnh hay là uy quyền không vận hành ở thân.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà phàm nhân nhận biết cảm thọ thuộc thân luôn cả thuộc tâm?”
“Tâu đại vương, vì tính chất không được tu tập của tâm khiến phàm nhân nhận biết cảm thọ thuộc thân luôn cả thuộc tâm. Tâu đại vương, giống như con bò đực bị đói, bị run rẩy, có thể được buộc lại bằng những cọng cỏ không chắc, yếu ớt, nhỏ nhắn, hoặc bằng sợi dây leo. Khi nào con bò đực ấy bị kích động, khi ấy nó ra đi cùng với sợi dây buộc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với tâm chưa được tu tập, cảm thọ sau khi sanh khởi thì làm cho tâm bị kích động. Tâm bị kích động, thì uốn cong thân, vặn vẹo, làm thân xoay chuyển. Và người ấy, với tâm chưa được tu tập, run rẩy, kêu lên, thét lên tiếng kêu ghê rợn. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy phàm nhân nhận biết cảm thọ thuộc thân luôn cả thuộc tâm.”
“Thưa ngài, vì lý do gì mà vị A-la-hán nhận biết một cảm thọ, thuộc thân không thuộc tâm?”
“Tâu đại vương, tâm của vị A-la-hán là đã được tu tập, đã khéo được tu tập, đã được rèn luyện, đã khéo được rèn luyện, biết nghe, có sự phục tùng. Vị ấy, trong khi bị tiếp xúc với cảm thọ khổ, nắm chắc ý nghĩ rằng: ‘là vô thường,’ rồi buộc tâm vào cột trụ của định. Được buộc chặt vào cột trụ của định, tâm ấy của vị ấy không rung chuyển, không dao động, được vững chãi, không bị tán loạn. Tuy nhiên, do sự lan rộng sức khuấy rối của cảm thọ, thân của vị ấy uốn cong, vặn vẹo, xoay chuyển. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy vị A-la-hán nhận biết một cảm thọ, thuộc thân không thuộc tâm.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, về việc trong khi thân dao động mà tâm không dao động được gọi là điều kỳ diệu ở thế gian. Về việc này, xin ngài hãy nói cho trẫm lý do.”
“Tâu đại vương, giống như ở cội cây to lớn khổng lồ có đầy đủ thân, cành cây, và lá cây, khi bị vùi dập bởi sức mạnh của gió thì cành cây dao động, phải chăng thân của cây cũng dao động?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị A-la-hán trong khi bị tiếp xúc với cảm thọ khổ, nắm chắc ý nghĩ rằng: ‘là vô thường,’ rồi buộc tâm vào cột trụ của định. Được buộc chặt vào cột trụ của định, tâm ấy của vị ấy không rung chuyển, không dao động, được vững chãi, không bị tán loạn. Do sự lan rộng sức khuấy rối của cảm thọ, thân của vị ấy uốn cong, vặn vẹo, xoay chuyển. Tuy nhiên, tâm của vị ây không rung chuyển, không dao động, tợ như thân của cội cây to lớn vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Ngọn đèn Giáo Pháp có hình thức như vầy vào mọi lúc là chưa từng được thấy trước đây bởi trẫm.”
Câu hỏi về sự nhận biết cảm thọ của vị A-la-hán là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘arahā ekaṁ vedanaṁ vedayati kāyikaṁ, na cetasikan’ti.
Kiṁ nu kho, bhante nāgasena, arahato cittaṁ yaṁ kāyaṁ nissāya pavattati, tattha arahā anissaro assāmī avasavattī”ti?
“Āma, mahārājā”ti.
“Na kho, bhante nāgasena, yuttametaṁ, yaṁ so sakacittassa pavattamāne kāye anissaro hoti assāmī avasavattī;
sakuṇopi tāva, bhante, yasmiṁ kulāvake paṭivasati, tattha so issaro hoti sāmī vasavattī”ti.
“Dasayime, mahārāja, kāyānugatā dhammā bhave bhave kāyaṁ anudhāvanti anuparivattanti.
Katame dasa?
Sītaṁ uṇhaṁ jighacchā pipāsā uccāro passāvo middhaṁ jarā byādhi maraṇaṁ.
Ime kho, mahārāja, dasa kāyānugatā dhammā bhave bhave kāyaṁ anudhāvanti anuparivattanti, tattha arahā anissaro assāmī avasavattī”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena arahato kāye āṇā nappavattati issariyaṁ vā, tattha me kāraṇaṁ brūhī”ti?
“Yathā, mahārāja, ye keci pathavinissitā sattā, sabbe te pathaviṁ nissāya caranti viharanti vuttiṁ kappenti, api nu kho, mahārāja, tesaṁ pathaviyā āṇā pavattati issariyaṁ vā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, arahato cittaṁ kāyaṁ nissāya pavattati, na ca arahato kāye āṇā pavattati issariyaṁ vā”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena puthujjano kāyikampi cetasikampi vedanaṁ vedayatī”ti?
“Abhāvitattā, mahārāja, cittassa puthujjano kāyikampi cetasikampi vedanaṁ vedayati.
Yathā, mahārāja, goṇo chāto paritasito abaladubbalaparittakatiṇesu vā latāya vā upanibaddho assa, yadā so goṇo parikupito hoti, tadā saha upanibandhanena pakkamati.
Evameva kho, mahārāja, abhāvitacittassa vedanā uppajjitvā cittaṁ parikopeti, cittaṁ parikupitaṁ kāyaṁ ābhujati nibbhujati samparivattakaṁ karoti.
Atha kho so abhāvitacitto tasati ravati bheravarāvamabhiravati, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena puthujjano kāyikampi cetasikampi vedanaṁ vedayatī”ti.
“Kiṁ pana taṁ kāraṇaṁ, yena kāraṇena arahā ekaṁ vedanaṁ vedayati kāyikaṁ, na cetasikan”ti?
“Arahato, mahārāja, cittaṁ bhāvitaṁ hoti subhāvitaṁ dantaṁ sudantaṁ assavaṁ vacanakaraṁ, so dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno ‘aniccan’ti daḷhaṁ gaṇhāti, samādhithambhe cittaṁ upanibandhati, tassa taṁ cittaṁ samādhithambhe upanibandhanaṁ na vedhati na calati, ṭhitaṁ hoti avikkhittaṁ, tassa vedanāvikāravipphārena kāyo ābhujati nibbhujati samparivattati, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena arahā ekaṁ vedanaṁ vedayati kāyikaṁ, na cetasikan”ti.
“Bhante nāgasena, taṁ nāma loke acchariyaṁ yaṁ kāye calamāne cittaṁ na calati, tattha me kāraṇaṁ brūhī”ti.
“Yathā, mahārāja, mahatimahārukkhe khandhasākhāpalāsasampanne anilabalasamāhate sākhā calati, api nu tassa khandhopi calatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, arahā dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno ‘aniccan’ti daḷhaṁ gaṇhāti, samādhithambhe cittaṁ upanibandhati, tassa taṁ cittaṁ samādhithambhe upanibandhanaṁ na vedhati na calati, ṭhitaṁ hoti avikkhittaṁ, tassa vedanāvikāravipphārena kāyo ābhujati nibbhujati samparivattati, cittaṁ pana tassa na vedhati na calati khandho viya mahārukkhassā”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, abbhutaṁ, bhante nāgasena, na me evarūpo sabbakāliko dhammapadīpo diṭṭhapubbo”ti.
Arahantavedanāvediyanapañho chaṭṭho.
PTS cs 40 ‘Venerable Nāgasena, your (members of the Order) say: PTS vp Pali 253
“There is one kind of pain only which an Arahat suffers, bodily pain, that is, and not mental.”
‘How is this, Nāgasena? the Arahat keeps his mind going by means of the body. Has the Arahat no lordship, no mastery, no power over the body?’
‘No, he has not, O king.’
‘That, Sir, is not right that over the body, by which he keeps his mind going, he should have neither lordship, nor mastery, nor power. Even a bird, Sir, is lord and master and ruler over the nest in which he dwells.’
PTS cs 41 ‘There are these ten qualities, O king, inherent in the body, which run after it, as it were, and accompany it from existence to existence. And what are the ten? Cold and heat, hunger and thirst, PTS vp En 76 The necessity of voiding excreta, fatigue and sleepiness, old age, disease, and death. And in respect thereof, the Arahat is without lordship, without mastery, without power.’
‘Venerable Nāgasena, what is the reason why the commands of the Arahat have no power over his body, neither has he any mastery over it? Tell me that.
‘Just, O king, as whatever beings are dependent on the land, they all walk, and dwell, and carry on their business in dependence upon it. But do their commands have force, does their mastery extend over it?’
‘Certainly not, Sir!’
‘Just so, O king, the Arahat keeps his mind going through the body. And yet his commands have no authority over it, nor power.’
PTS cs 42 ‘Venerable Nāgasena, why is it that the ordinary man suffers both bodily and mental pain?’
‘By reason, O king, of the untrained state of his mind. just, O king, as an ox when trembling with starvation might be tied up with a weak and fragile and tiny rope of grass or creeper. But if the ox were excited then would he escape, dragging the fastening with him. Just so, O king, when pain comes upon him whose mind is untrained, then is his mind excited, and the mind so excited bends his body this way and that and makes it grovel on the ground, PTS vp Pali 254 and he, being thus untrained in mind, trembles and cries, and gives forth terrible PTS vp En 77 groans. This is why the ordinary man, O king, suffers pain as well in body as in mind.’
PTS cs 43 ‘Then why, Sir, does the Arahat only suffer one kind of pain—bodily, that is, and not mental?’
‘The mind of the Arahat, O king, is trained, well practised, tamed, brought into subjection, and obedient, and it hearkens to his word. When affected with feelings of pain, he grasps firmly the idea of the impermanence of all things, so ties his mind as it were to the post of contemplation, and his mind, bound to the post of contemplation, remains unmoved, unshaken, becomes stedfast, wanders not—though his body the while may bend this way and that and roll in agony by the disturbing influence of the pain. This is why it is only one kind of pain that the Arahat suffers—bodily pain, that is, and not mental.’
44., Venerable Nāgasena, that verily is a most marvellous thing that when the body is trembling the mind should not be shaken. Give me a reason for that.’
‘Suppose, O king, there were a noble tree, mighty in trunk and branches and leaves. And when agitated by the force of the wind its branches should wave. Would the trunk also move
‘Certainly not, Sir!’
‘Well, O king, the mind of the Arahat is as the trunk of that noble tree.’
‘ Most wonderful, Nāgasena, and most strange! PTS vp En 78 Never before have I seen a lamp of the law that burned thus brightly through all time.’
Here ends the dilemma as to the Arahat’s power over his body.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Vị A-la-hán nhận biết một cảm thọ, thuộc thân không thuộc tâm.’ Thưa ngài Nāgasena, việc mà tâm của vị A-la-hán vận hành nương vào thân, vậy có phải vị A-la-hán không phải là chúa tể, không phải là người chủ, không có quyền hành ở nơi ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, việc vị ấy không phải là chúa tể, không phải là người chủ, không có quyền hành đối với tâm của mình trong khi thân đang được vận hành là không đúng. Thậm chí con chim cho đến khi nào còn trú ở nơi tổ chim, thì nó là chúa tể, là người chủ, là có quyền hành ở nơi ấy. ”
BJT 2“Tâu đại vương, mười pháp này đi theo thân, chạy theo, vận hành theo thân ở mỗi một kiếp sống. Mười pháp nào? Lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, dã dượi buồn ngủ, già, bệnh, chết. Tâu đại vương, đây là mười pháp đi theo thân, chạy theo, vận hành theo thân ở mỗi một kiếp sống. Vị A-la-hán không phải là chúa tể, không phải là người chủ, không có quyền hành ở nơi ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà đối với vị A-la-hán, mệnh lệnh hay là uy quyền không vận hành ở thân? Về việc này, xin ngài hãy nói cho trẫm lý do.”
“Tâu đại vương, giống như những chúng sanh nào đó là được nương tựa vào trái đất, tất cả bọn họ nương vào trái đất mà di chuyển, sinh sống, quyết định lối cư xử. Tâu đại vương, phải chăng mệnh lệnh hay là uy quyền của những người ấy vận hành ở trái đất?”
“Thưa ngài, tất nhiên không.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế tâm của vị A-la-hán vận hành nương vào thân. Tuy nhiên, đối với vị A-la-hán mệnh lệnh hay là uy quyền không vận hành ở thân.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà phàm nhân nhận biết cảm thọ thuộc thân luôn cả thuộc tâm?”
“Tâu đại vương, vì tính chất không được tu tập của tâm khiến phàm nhân nhận biết cảm thọ thuộc thân luôn cả thuộc tâm. Tâu đại vương, giống như con bò đực bị đói, bị run rẩy, có thể được buộc lại bằng những cọng cỏ không chắc, yếu ớt, nhỏ nhắn, hoặc bằng sợi dây leo. Khi nào con bò đực ấy bị kích động, khi ấy nó ra đi cùng với sợi dây buộc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với tâm chưa được tu tập, cảm thọ sau khi sanh khởi thì làm cho tâm bị kích động. Tâm bị kích động, thì uốn cong thân, vặn vẹo, làm thân xoay chuyển. Và người ấy, với tâm chưa được tu tập, run rẩy, kêu lên, thét lên tiếng kêu ghê rợn. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy phàm nhân nhận biết cảm thọ thuộc thân luôn cả thuộc tâm.”
“Thưa ngài, vì lý do gì mà vị A-la-hán nhận biết một cảm thọ, thuộc thân không thuộc tâm?”
“Tâu đại vương, tâm của vị A-la-hán là đã được tu tập, đã khéo được tu tập, đã được rèn luyện, đã khéo được rèn luyện, biết nghe, có sự phục tùng. Vị ấy, trong khi bị tiếp xúc với cảm thọ khổ, nắm chắc ý nghĩ rằng: ‘là vô thường,’ rồi buộc tâm vào cột trụ của định. Được buộc chặt vào cột trụ của định, tâm ấy của vị ấy không rung chuyển, không dao động, được vững chãi, không bị tán loạn. Tuy nhiên, do sự lan rộng sức khuấy rối của cảm thọ, thân của vị ấy uốn cong, vặn vẹo, xoay chuyển. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy vị A-la-hán nhận biết một cảm thọ, thuộc thân không thuộc tâm.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, về việc trong khi thân dao động mà tâm không dao động được gọi là điều kỳ diệu ở thế gian. Về việc này, xin ngài hãy nói cho trẫm lý do.”
“Tâu đại vương, giống như ở cội cây to lớn khổng lồ có đầy đủ thân, cành cây, và lá cây, khi bị vùi dập bởi sức mạnh của gió thì cành cây dao động, phải chăng thân của cây cũng dao động?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị A-la-hán trong khi bị tiếp xúc với cảm thọ khổ, nắm chắc ý nghĩ rằng: ‘là vô thường,’ rồi buộc tâm vào cột trụ của định. Được buộc chặt vào cột trụ của định, tâm ấy của vị ấy không rung chuyển, không dao động, được vững chãi, không bị tán loạn. Do sự lan rộng sức khuấy rối của cảm thọ, thân của vị ấy uốn cong, vặn vẹo, xoay chuyển. Tuy nhiên, tâm của vị ây không rung chuyển, không dao động, tợ như thân của cội cây to lớn vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Ngọn đèn Giáo Pháp có hình thức như vầy vào mọi lúc là chưa từng được thấy trước đây bởi trẫm.”
Câu hỏi về sự nhận biết cảm thọ của vị A-la-hán là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘arahā ekaṁ vedanaṁ vedayati kāyikaṁ, na cetasikan’ti.
Kiṁ nu kho, bhante nāgasena, arahato cittaṁ yaṁ kāyaṁ nissāya pavattati, tattha arahā anissaro assāmī avasavattī”ti?
“Āma, mahārājā”ti.
“Na kho, bhante nāgasena, yuttametaṁ, yaṁ so sakacittassa pavattamāne kāye anissaro hoti assāmī avasavattī;
sakuṇopi tāva, bhante, yasmiṁ kulāvake paṭivasati, tattha so issaro hoti sāmī vasavattī”ti.
“Dasayime, mahārāja, kāyānugatā dhammā bhave bhave kāyaṁ anudhāvanti anuparivattanti.
Katame dasa?
Sītaṁ uṇhaṁ jighacchā pipāsā uccāro passāvo middhaṁ jarā byādhi maraṇaṁ.
Ime kho, mahārāja, dasa kāyānugatā dhammā bhave bhave kāyaṁ anudhāvanti anuparivattanti, tattha arahā anissaro assāmī avasavattī”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena arahato kāye āṇā nappavattati issariyaṁ vā, tattha me kāraṇaṁ brūhī”ti?
“Yathā, mahārāja, ye keci pathavinissitā sattā, sabbe te pathaviṁ nissāya caranti viharanti vuttiṁ kappenti, api nu kho, mahārāja, tesaṁ pathaviyā āṇā pavattati issariyaṁ vā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, arahato cittaṁ kāyaṁ nissāya pavattati, na ca arahato kāye āṇā pavattati issariyaṁ vā”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena puthujjano kāyikampi cetasikampi vedanaṁ vedayatī”ti?
“Abhāvitattā, mahārāja, cittassa puthujjano kāyikampi cetasikampi vedanaṁ vedayati.
Yathā, mahārāja, goṇo chāto paritasito abaladubbalaparittakatiṇesu vā latāya vā upanibaddho assa, yadā so goṇo parikupito hoti, tadā saha upanibandhanena pakkamati.
Evameva kho, mahārāja, abhāvitacittassa vedanā uppajjitvā cittaṁ parikopeti, cittaṁ parikupitaṁ kāyaṁ ābhujati nibbhujati samparivattakaṁ karoti.
Atha kho so abhāvitacitto tasati ravati bheravarāvamabhiravati, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena puthujjano kāyikampi cetasikampi vedanaṁ vedayatī”ti.
“Kiṁ pana taṁ kāraṇaṁ, yena kāraṇena arahā ekaṁ vedanaṁ vedayati kāyikaṁ, na cetasikan”ti?
“Arahato, mahārāja, cittaṁ bhāvitaṁ hoti subhāvitaṁ dantaṁ sudantaṁ assavaṁ vacanakaraṁ, so dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno ‘aniccan’ti daḷhaṁ gaṇhāti, samādhithambhe cittaṁ upanibandhati, tassa taṁ cittaṁ samādhithambhe upanibandhanaṁ na vedhati na calati, ṭhitaṁ hoti avikkhittaṁ, tassa vedanāvikāravipphārena kāyo ābhujati nibbhujati samparivattati, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena arahā ekaṁ vedanaṁ vedayati kāyikaṁ, na cetasikan”ti.
“Bhante nāgasena, taṁ nāma loke acchariyaṁ yaṁ kāye calamāne cittaṁ na calati, tattha me kāraṇaṁ brūhī”ti.
“Yathā, mahārāja, mahatimahārukkhe khandhasākhāpalāsasampanne anilabalasamāhate sākhā calati, api nu tassa khandhopi calatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, arahā dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno ‘aniccan’ti daḷhaṁ gaṇhāti, samādhithambhe cittaṁ upanibandhati, tassa taṁ cittaṁ samādhithambhe upanibandhanaṁ na vedhati na calati, ṭhitaṁ hoti avikkhittaṁ, tassa vedanāvikāravipphārena kāyo ābhujati nibbhujati samparivattati, cittaṁ pana tassa na vedhati na calati khandho viya mahārukkhassā”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, abbhutaṁ, bhante nāgasena, na me evarūpo sabbakāliko dhammapadīpo diṭṭhapubbo”ti.
Arahantavedanāvediyanapañho chaṭṭho.