BJT 2313Tôi đã cúng dường một chiếc lọng đến đức Thế Tộn Tissa, vị Trời của chư Thiên như thế ấy, với tâm ý trong sạch.
BJT 2314Điều ác xấu của tôi được chận đứng, có sự thành tựu của điều thiện. (Chư Thiên) nắm giữ chiếc lọng ở không trung (che cho tôi), điều này là quả báu của nghiệp quá khứ.
BJT 2315(Đây là) lần sau cùng của tôi trong sự luân chuyển, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Tôi duy trì thân mạng cuối cùng ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.
BJT 2316Kể từ khi tôi đã dâng cúng chiếc lọng trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng chiếc lọng.
BJT 2317Trước đây bảy mươi hai kiếp, tám bậc thống lãnh dân chúng (cùng) tên Mahānidāna đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 2318Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vātātapanivāriyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Vātātapanivāriya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Bông hoa kaṇikāra, bông hoa minela, bông hoa kiṅkiṇi, và với sự vượt qua, vị có bông hoa nigguṇḍi, vị cúng dường nước, bông hoa salala, và bông hoa kuraṇḍaka, (vị dâng cúng) chân đế bình bát, lọng che nắng; (tổng cộng) có bốn mươi tám câu kệ.
Phẩm Kaṇikārapupphiya là phẩm thứ hai mươi mốt.
“Tissassa tu bhagavato,
devadevassa tādino;
Ekacchattaṁ mayā dinnaṁ,
vippasannena cetasā.
Nivutaṁ hoti me pāpaṁ,
kusalassupasampadā;
Ākāse chattaṁ dhārenti,
pubbakammassidaṁ phalaṁ.
Carimaṁ vattate mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Dhāremi antimaṁ dehaṁ,
sammāsambuddhasāsane.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ chattamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
chattadānassidaṁ phalaṁ.
Dvesattatimhito kappe,
aṭṭhāsiṁsu janādhipā;
Mahānidānanāmena,
rājāno cakkavattino.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pāpanivāriyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pāpanivāriyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Kaṇikārapupphiyavaggo ekavīsatimo.
Tassuddānaṁ
Kaṇikāro minelañca,
kiṅkaṇi taraṇena ca;
Nigguṇḍipupphī dakado,
salalo ca kuraṇḍako;
Ādhārako pāpavārī,
aṭṭhatālīsa gāthakāti.
Walt 2313 With a mind which was very clear,
I gave a single umbrella
to the Blessed One named Tissa,
the God of Gods, the Neutral One. Verse 1
Walt 2314 The badness in me is suppressed;
there is achievement of goodness.
Umbrella carried in the sky:
the fruit of previous karma. Verse 2
Walt 2315 This is my last transmigration,
all existences are canceled.
I now possess my last body
in the Buddha’s dispensation. Verse 3
Walt 2316 In the ninety-two aeons since
I gave that umbrella back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of umbrella-gifts. Verse 4
Walt 2317 The seventy-second aeon hence
there were eight lords of the people,
all known as Mahānidāna,
kings who were wheel-turning monarchs. Verse 5
Walt 2318 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 6
Thus indeed Venerable Vātātapanivāriya Thera spoke these verses.
The legend of Vātātapanivāriya Thera is finished.
The Summary:
Kaṇikāra and Vinela,
and Kiṅkinī with Taraṇa,
Nigguṇḍipuppha, ‘dakada,
Salaḷa and Koraṇḍaka,
Ādhāraka, Vātātapa:
there are eight and forty verses.
Kaṇikārapupphiya Chapter, the Twenty-First
BJT 2313Tôi đã cúng dường một chiếc lọng đến đức Thế Tộn Tissa, vị Trời của chư Thiên như thế ấy, với tâm ý trong sạch.
BJT 2314Điều ác xấu của tôi được chận đứng, có sự thành tựu của điều thiện. (Chư Thiên) nắm giữ chiếc lọng ở không trung (che cho tôi), điều này là quả báu của nghiệp quá khứ.
BJT 2315(Đây là) lần sau cùng của tôi trong sự luân chuyển, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Tôi duy trì thân mạng cuối cùng ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.
BJT 2316Kể từ khi tôi đã dâng cúng chiếc lọng trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng chiếc lọng.
BJT 2317Trước đây bảy mươi hai kiếp, tám bậc thống lãnh dân chúng (cùng) tên Mahānidāna đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 2318Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Vātātapanivāriyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Vātātapanivāriya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Bông hoa kaṇikāra, bông hoa minela, bông hoa kiṅkiṇi, và với sự vượt qua, vị có bông hoa nigguṇḍi, vị cúng dường nước, bông hoa salala, và bông hoa kuraṇḍaka, (vị dâng cúng) chân đế bình bát, lọng che nắng; (tổng cộng) có bốn mươi tám câu kệ.
Phẩm Kaṇikārapupphiya là phẩm thứ hai mươi mốt.
“Tissassa tu bhagavato,
devadevassa tādino;
Ekacchattaṁ mayā dinnaṁ,
vippasannena cetasā.
Nivutaṁ hoti me pāpaṁ,
kusalassupasampadā;
Ākāse chattaṁ dhārenti,
pubbakammassidaṁ phalaṁ.
Carimaṁ vattate mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Dhāremi antimaṁ dehaṁ,
sammāsambuddhasāsane.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ chattamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
chattadānassidaṁ phalaṁ.
Dvesattatimhito kappe,
aṭṭhāsiṁsu janādhipā;
Mahānidānanāmena,
rājāno cakkavattino.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pāpanivāriyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pāpanivāriyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Kaṇikārapupphiyavaggo ekavīsatimo.
Tassuddānaṁ
Kaṇikāro minelañca,
kiṅkaṇi taraṇena ca;
Nigguṇḍipupphī dakado,
salalo ca kuraṇḍako;
Ādhārako pāpavārī,
aṭṭhatālīsa gāthakāti.