BJT 2591(Đức Phật Siddhattha) sống ở trong vùng đồi núi kề cận biển cả. Sau khi đi ra tiếp đón (Ngài), tôi đã thực hiện và đã dâng cúng cái hộp (đựng bông hoa).
BJT 2592Sau khi dâng cúng cái hộp đựng bông hoa đến bậc Đại Ẩn Sĩ Siddhattha, đấng có lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.
BJT 2593Kể từ khi tôi đã dâng cúng cái hộp trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cái hộp.
BJT 2594Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Caṅgoṭakiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Mahāsamuddaṁ nissāya,
vasatī pabbatantare;
Paccuggantvāna katvāna,
caṅkoṭaka madāsahaṁ.
Siddhatthassa mahesino,
sabbasattānukampino;
Pupphacaṅkoṭakaṁ datvā,
kappaṁ saggamhi modahaṁ.
Catunnavutito kappe,
caṅkoṭakamadaṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
caṅkoṭakassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā caṅkoṭakiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Caṅkoṭakiyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.
Walt 2591 While dwelling amidst the mountains,
living off of food from the sea,
not wishing to fall backwards I
did make a donation, a box. Verse 1
Walt 2592 After giving a box of blooms
to Siddhattha, the Greatest Sage,
the Pitier of All Beings,
an aeon I joyed in heaven. Verse 2
Walt 2593 In the ninety-four aeons since
I gave that box to Buddha then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of giving a box. Verse 3
Walt 2594 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 4
Thus indeed Venerable Caṅgoṭakiya Thera spoke these verses.
The legend of Caṅgoṭakiya Thera is finished.
BJT 2591(Đức Phật Siddhattha) sống ở trong vùng đồi núi kề cận biển cả. Sau khi đi ra tiếp đón (Ngài), tôi đã thực hiện và đã dâng cúng cái hộp (đựng bông hoa).
BJT 2592Sau khi dâng cúng cái hộp đựng bông hoa đến bậc Đại Ẩn Sĩ Siddhattha, đấng có lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.
BJT 2593Kể từ khi tôi đã dâng cúng cái hộp trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cái hộp.
BJT 2594Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Caṅgoṭakiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Mahāsamuddaṁ nissāya,
vasatī pabbatantare;
Paccuggantvāna katvāna,
caṅkoṭaka madāsahaṁ.
Siddhatthassa mahesino,
sabbasattānukampino;
Pupphacaṅkoṭakaṁ datvā,
kappaṁ saggamhi modahaṁ.
Catunnavutito kappe,
caṅkoṭakamadaṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
caṅkoṭakassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā caṅkoṭakiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Caṅkoṭakiyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.