BJT 998Lúc bấy giờ, tôi đã là người thương buôn ở thành phố Bandhumatī. Chính nhờ thế, tôi cấp dưỡng người vợ và gieo trồng sự thành tựu về nhân lành.
BJT 999Trong khi bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī đang đi ở trên đường, tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư một tấm vải sợi lanh nhằm mục đích hành thiện.
BJT 1000Kể từ khi tôi đã dâng cúng tấm vải sợi lanh trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng tấm vải sợi lanh.
BJT 1001Trước đây hai mươi bảy kiếp, tôi đã là Sindhavasandana, vị chúa tể độc nhất ở bốn châu lục, được thành tựu bảy loại báu vật.
BJT 1002Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Khomadāyaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Vị Subhūti, vị Upavāna, vị có sự nương nhờ, vị gìn giữ giới, vị ngợi ca về vật thực, vị (cúng dường) khói hương, vị (dâng cúng) cát, cùng với vị Uttariya, vị có sự chắp tay, và vị dâng cúng tấm vải sợi lanh, chính là mười (ký sự) thuộc phần thứ ba. Một trăm tám mươi lăm câu kệ đã được nói lên và tất cả đã được gộp chung lại.
Phẩm Subhūti là phẩm thứ ba.
(Tụng phẩm thứ tư).
“Nagare bandhumatiyā,
ahosiṁ vāṇijo tadā;
Teneva dāraṁ posemi,
ropemi bījasampadaṁ.
Rathiyaṁ paṭipannassa,
vipassissa mahesino;
Ekaṁ khomaṁ mayā dinnaṁ,
kusalatthāya satthuno.
Ekanavutito kappe,
yaṁ khomamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
khomadānassidaṁ phalaṁ.
Sattarase ito kappe,
eko sindhavasandhano;
Sattaratanasampanno,
catudīpamhi issaro.
Paṭisambhidā catasso,
Vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
Kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā khomadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Khomadāyakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Tassuddānaṁ
Subhūti upavāno ca,
saraṇo sīlagāhako;
Annasaṁsāvako dhūpo,
pulino uttiyena ca.
Añjalī khomadāyī ca,
daseva tatiye gaṇe;
Pañcāsītisataṁ vuttā,
gāthāyo sabbapiṇḍitā.
Subhūtivaggo tatiyo.
Catutthabhāṇavāraṁ.
Walt 998 In the city Bandhumatī
I lived as a trader back then.
In that way supporting my wife
I planted the seeds of great wealth. Verse 1
Walt 999 I donated one khoma cloth
to the Sage known as Vipassi,
Teacher, who had entered the road,
in order to obtain merit. Verse 2
Walt 1000 In the ninety-one aeons since
I gave that khoma cloth back then,
I’ve come to know no bad rebirth;
that is the fruit of giving cloth. Verse 3
Walt 1001 Seven and twenty aeons ago
I was Sindhavasandana,
possessor of the seven gems,
and lord of the four continents. Verse 4
Walt 1002 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 5
Thus indeed Venerable Khomadāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Khomadāyaka Thera is finished.
The Summary:
Subhūti and Upavāna,
Saraṇa, Sīlagāhaka,
Annasansāvaka, Dhūpa,
Puḷina, and with Uttiya.
Añjalī and Khomadāyī,
ten indeed, in the third group.
All together one hundred eighty five
verses have been spoken.
Subhūti Chapter, the Third.
The Fourth Recitation Portion.
BJT 998Lúc bấy giờ, tôi đã là người thương buôn ở thành phố Bandhumatī. Chính nhờ thế, tôi cấp dưỡng người vợ và gieo trồng sự thành tựu về nhân lành.
BJT 999Trong khi bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī đang đi ở trên đường, tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư một tấm vải sợi lanh nhằm mục đích hành thiện.
BJT 1000Kể từ khi tôi đã dâng cúng tấm vải sợi lanh trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng tấm vải sợi lanh.
BJT 1001Trước đây hai mươi bảy kiếp, tôi đã là Sindhavasandana, vị chúa tể độc nhất ở bốn châu lục, được thành tựu bảy loại báu vật.
BJT 1002Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Khomadāyaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Vị Subhūti, vị Upavāna, vị có sự nương nhờ, vị gìn giữ giới, vị ngợi ca về vật thực, vị (cúng dường) khói hương, vị (dâng cúng) cát, cùng với vị Uttariya, vị có sự chắp tay, và vị dâng cúng tấm vải sợi lanh, chính là mười (ký sự) thuộc phần thứ ba. Một trăm tám mươi lăm câu kệ đã được nói lên và tất cả đã được gộp chung lại.
Phẩm Subhūti là phẩm thứ ba.
(Tụng phẩm thứ tư).
“Nagare bandhumatiyā,
ahosiṁ vāṇijo tadā;
Teneva dāraṁ posemi,
ropemi bījasampadaṁ.
Rathiyaṁ paṭipannassa,
vipassissa mahesino;
Ekaṁ khomaṁ mayā dinnaṁ,
kusalatthāya satthuno.
Ekanavutito kappe,
yaṁ khomamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
khomadānassidaṁ phalaṁ.
Sattarase ito kappe,
eko sindhavasandhano;
Sattaratanasampanno,
catudīpamhi issaro.
Paṭisambhidā catasso,
Vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
Kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā khomadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Khomadāyakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Tassuddānaṁ
Subhūti upavāno ca,
saraṇo sīlagāhako;
Annasaṁsāvako dhūpo,
pulino uttiyena ca.
Añjalī khomadāyī ca,
daseva tatiye gaṇe;
Pañcāsītisataṁ vuttā,
gāthāyo sabbapiṇḍitā.
Subhūtivaggo tatiyo.
Catutthabhāṇavāraṁ.