BJT 3214Lúc bấy giờ, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu ở bờ sông Candabhāgā. Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu, đang đi kinh hành.
BJT 3215Tôi đã thu hái bông hoa salala và đã dâng cúng đến đức Phật. Đấng Đại Hùng đã ngửi bông hoa salala có hương thơm của cõi trời.
BJT 3216Sau khi thọ nhận, đấng Toàn Giác, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī, đấng Đại Hùng đã ngửi (bông hoa), trong khi tôi đang nhìn xem.
BJT 3217Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đảnh lễ bậc Tối Thượng Nhân. Tôi đã chắp tay lên và đã leo lên ngọn núi lần nữa.
BJT 3218(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3219Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Salalapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Salalapupphiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Bông hoa mandārava, bông hoa kakkāru, củ sen, bông hoa kesara, bông hoa aṅkola, vị có bông hoa kadamba, bông hoa uddāla, một bông hoa campaka, bông hoa timira, và cả bông hoa salala nữa; (tổng cộng) có bốn mươi câu kệ.
Phẩm Mandāravapupphiya là phẩm thứ ba mươi bảy.
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ kinnaro tadā;
Tatthaddasaṁ devadevaṁ,
caṅkamantaṁ narāsabhaṁ.
Ocinitvāna saḷalaṁ,
pupphaṁ buddhassadāsahaṁ;
Upasiṅghi mahāvīro,
saḷalaṁ devagandhikaṁ.
Paṭiggahetvā sambuddho,
vipassī lokanāyako;
Upasiṅghi mahāvīro,
pekkhamānassa me sato.
Pasannacitto sumano,
vanditvā dvipaduttamaṁ;
Añjaliṁ paggahetvāna,
puna pabbatamāruhiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā saḷalapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Saḷalapupphiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Mandāravapupphiyavaggo sattatiṁsatimo.
Tassuddānaṁ
Mandāravañca kakkāru,
bhisakesarapupphiyo;
Aṅkolako kadambī ca,
uddālī ekacampako;
Timiraṁ saḷalañceva,
gāthā tālīsameva ca.
Walt 3214 On Candabhāgā River’s bank
I was a kinnara back then.
And then I saw the God of Gods,
Bull of Men, walking back and forth. Verse 1
Walt 3215 Plucking a salaḷa flower,
I gifted it to the Buddha.
The Great Hero, the Buddha sniffed
that divinely-scented flower. Verse 2
Walt 3216 Accepting them the Sambuddha
Vipassi, Leader of the World,
the Great Hero, the Buddha sniffed,
conscious of what I was wishing. Verse 3
Walt 3217 Happy, with pleasure in my heart,
I worshipped him, the Best Biped.
Pressing both my hands together
I climbed up the mountain again. Verse 4
Walt 3218 In the ninety-one aeons since
I did pūjā with that flower,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 5
Walt 3219 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 6
Thus indeed Venerable Salaḷapupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Salaḷapupphiya Thera is finished.
The Summary:
Mandārava and Kekkhāru,
Bhisa, Kesarapupphiya,
Aṅkolaka and Kadambi,
Uddāli, Ekacampaka,
Timira, Salaḷa as well:
and exactly forty verses.
The Mandārapupphiya Chapter, the Thirty-Seventh
BJT 3214Lúc bấy giờ, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu ở bờ sông Candabhāgā. Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu, đang đi kinh hành.
BJT 3215Tôi đã thu hái bông hoa salala và đã dâng cúng đến đức Phật. Đấng Đại Hùng đã ngửi bông hoa salala có hương thơm của cõi trời.
BJT 3216Sau khi thọ nhận, đấng Toàn Giác, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī, đấng Đại Hùng đã ngửi (bông hoa), trong khi tôi đang nhìn xem.
BJT 3217Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đảnh lễ bậc Tối Thượng Nhân. Tôi đã chắp tay lên và đã leo lên ngọn núi lần nữa.
BJT 3218(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3219Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Salalapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Salalapupphiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Bông hoa mandārava, bông hoa kakkāru, củ sen, bông hoa kesara, bông hoa aṅkola, vị có bông hoa kadamba, bông hoa uddāla, một bông hoa campaka, bông hoa timira, và cả bông hoa salala nữa; (tổng cộng) có bốn mươi câu kệ.
Phẩm Mandāravapupphiya là phẩm thứ ba mươi bảy.
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ kinnaro tadā;
Tatthaddasaṁ devadevaṁ,
caṅkamantaṁ narāsabhaṁ.
Ocinitvāna saḷalaṁ,
pupphaṁ buddhassadāsahaṁ;
Upasiṅghi mahāvīro,
saḷalaṁ devagandhikaṁ.
Paṭiggahetvā sambuddho,
vipassī lokanāyako;
Upasiṅghi mahāvīro,
pekkhamānassa me sato.
Pasannacitto sumano,
vanditvā dvipaduttamaṁ;
Añjaliṁ paggahetvāna,
puna pabbatamāruhiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā saḷalapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Saḷalapupphiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Mandāravapupphiyavaggo sattatiṁsatimo.
Tassuddānaṁ
Mandāravañca kakkāru,
bhisakesarapupphiyo;
Aṅkolako kadambī ca,
uddālī ekacampako;
Timiraṁ saḷalañceva,
gāthā tālīsameva ca.