BJT 5304Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Yamaka, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập.
BJT 5305(Tôi) là vị đạo sĩ tóc bện tên Nārada có sự khổ hạnh cao tột. Mười bốn ngàn người đệ tử sống quanh tôi.
BJT 5206Lúc bấy giờ, trong khi đang thiền tịnh tôi đã suy nghĩ như vầy: “Tất cả mọi người tôn vinh ta. Ta không tôn vinh bất cứ ai.
BJT 5307Ta không có vị giáo giới, không biết đến bất cứ vị diễn giả nào. Ta đi đến cư ngụ ở trong rừng, không có thầy giáo thọ và thầy tế độ.
BJT 5308Đối với ta, không có thầy giáo thọ để ta phục vụ với tâm cung kính trong lúc kề cận thì sự cư ngụ ở rừng là không có ý nghĩa.
BJT 5309Như thế, ta sẽ tự tìm kiếm vị thầy đáng kính, đáng thọ nhận sự cúng dường của ta. Ta sẽ sống có sự hỗ trợ, không người nào sẽ trách móc.”
BJT 5310Không xa khu ẩn cư của tôi có con sông nhỏ với bờ nước lúp xúp, có bãi nước cạn khéo được thiết lập, được trải lớp cát vô cùng trong sạch, làm thích ý.
BJT 5311Khi ấy, tôi đã đi đến con sông tên là Amarikā. Tôi đã gom cát lại và đã thực hiện ngôi bảo tháp bằng cát.
BJT 5312“Những vị nào đã là các bậc Toàn Giác, là những vị Hiền Trí có sự đoạn tận việc tái sanh, ngôi bảo tháp như thế này là dành cho các vị ấy;” tôi đã làm điều ấy trở thành ấn chứng.
BJT 5313Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp cát, tôi đã biến hóa thành vàng. Tôi đã cúng dường ba ngàn bông hoa kiṅka bằng vàng.
BJT 5314Tràn đầy niềm phấn khởi, tôi chắp tay lên lễ bái sáng chiều. Tôi đã đảnh lễ ngôi bảo tháp cát như là đảnh lễ bậc Toàn Giác ở trước mặt.
BJT 5315Mỗi khi các điều ô nhiễm là các suy tầm về đời sống tại gia sanh khởi, tôi tưởng nhớ đến đấng Thiện Thệ đến ngôi bảo tháp, lập tức tôi quán xét lại rằng:
BJT 5316“Thưa ông, trong khi sống nương tựa vào đấng Hướng Đạo, bậc Xa Phu, sao ông có thể sống chung với các điều ô nhiễm, thật không thích hợp cho ông!”
BJT 5317Lúc bấy giờ, mỗi khi suy tưởng đến ngôi bảo tháp, sự cung kính đã có đến tôi. Tôi đã xua đuổi các suy tầm xấu xa như là con voi bị khổ sở vì cây lao nhọn.
BJT 5318Trong khi đang an trú như thế, vị vua Thần Chết đã chế ngự tôi. Mệnh chung ở tại nơi ấy, tôi đã đi đến thế giới Phạm Thiên.
BJT 5319Sau khi sống đến hết tuổi thọ, tôi đã sanh ra ở cõi Tam Thập (Đạo Lợi). Tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần.
BJT 5320Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba trăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 5321Tôi thọ hưởng quả thành tựu của những bông hoa kiṅkaṇiấy. Trong đời sống, có một trăm ngàn người bảo mẫu ở quanh tôi.
BJT 5322Do bản chất của sự việc đã được thực hành ở ngôi bảo tháp, bụi bặm và cáu đất không làm nhơ nhuốc, các mồ hôi không tiết ra ở cơ thể, tôi có được vẻ ngời sáng.
BJT 5323Ôi ngôi bảo tháp đã khéo được xây dựng bởi tôi, con sông Amarikā đã khéo được nhìn thấy bởi tôi! Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp bằng cát, tôi đạt được vị thế Bất Động.
BJT 5324Với người có ước muốn làm việc lành có sự nắm được điều cốt yếu, dầu có thửa ruộng hoặc không có thửa ruộng, việc thực hành đều có kết quả tốt đẹp.
BJT 5325Cũng giống như người nam có sức mạnh nỗ lực để vượt qua biển cả, sau khi cầm lấy khúc gỗ nhỏ nhoi, có thể lao mình vào đại dương (nghĩ rằng):.
BJT 5326“Nương tựa vào khúc gỗ này, ta sẽ vượt qua biển lớn.” Với sự nỗ lực và tinh tấn, người nam (ấy) có thể vượt qua biển cả.
BJT 5327Tương tợ y như thế, việc làm đã được thực hiện bởi tôi dầu nhỏ nhoi và bé bỏng, sau khi nương tựa vào việc làm ấy tôi đã tự mình vượt khỏi luân hồi.
BJT 5328Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch tôi đã được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Sāvatthī.
BJT 5329Có niềm tin, mẹ và cha của tôi đã đi đến nương nhờ vào đức Phật. Có sự đạt được (Pháp) nhãn, cả hai người này hành xử thuận theo Giáo Pháp.
BJT 5330Sau khi nhặt lấy vỏ khô của cội cây Bồ Đề, họ đã cho xây dựng ngôi bảo tháp bằng vàng. Sáng chiều họ trực tiếp lễ bái người con trai của dòng họ Sakya.
BJT 5331Vào ngày lễ Uposatha, họ đã dời đi ngôi bảo tháp bằng vàng. Trong khi tán dương công hạnh của đức Phật, họ đã trải qua ba canh (của đêm).
BJT 5332Sau khi nhìn thấy ngôi bảo tháp (vàng), tôi đã nhớ lại ngôi bảo tháp bằng cát. Tôi đã ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
(Tụng phẩm thứ hai mươi hai).
BJT 5333Trong khi tìm kiếm đấng Chiến Thắng ấy, tôi đã nhìn thấy vị Tướng Quân Chánh Pháp. Sau khi lìa khỏi gia đình, tôi đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
BJT 5334Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật bậc Hữu Nhãn đã cho tu lên bậc trên.
BJT 5336Trong khi chỉ là đứa bé trai, tôi đã hoàn thành được công việc. Giờ đây, việc cần phải làm trong Giáo Pháp của người con trai dòng họ Sakya đã được tôi thực hiện.
BJT 5337(Tôi trở thành) vị ẩn sĩ đã vượt qua mọi sự hận thù và hãi sợ, đã vượt lên mọi điều trói buộc. “Bạch đấng Đại Hùng, con là Thinh Văn của Ngài; điều này là quả báu của bông hoa bằng vàng.”
BJT 5338Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5339Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5340Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pulinathūpiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pulinathūpiya là phần thứ tám.
“Himavantassāvidūre,
yamako nāma pabbato;
Assamo sukato mayhaṁ,
paṇṇasālā sumāpitā.
Nārado nāma nāmena,
jaṭilo uggatāpano;
Catuddasasahassāni,
sissā paricaranti maṁ.
Paṭisallīnako santo,
evaṁ cintesahaṁ tadā;
‘Sabbo jano maṁ pūjeti,
nāhaṁ pūjemi kiñcanaṁ.
Na me ovādako atthi,
vattā koci na vijjati;
Anācariyupajjhāyo,
vane vāsaṁ upemahaṁ.
Upāsamāno yamahaṁ,
garucittaṁ upaṭṭhahe;
So me ācariyo natthi,
vanavāso niratthako.
Āyāgaṁ me gavesissaṁ,
garuṁ bhāvaniyaṁ tathā;
Sāvassayo vasissāmi,
na koci garahissati’.
Uttānakūlā nadikā,
supatitthā manoramā;
Saṁsuddhapulinākiṇṇā,
avidūre mamassamaṁ.
Nadiṁ amarikaṁ nāma,
upagantvānahaṁ tadā;
Saṁvaḍḍhayitvā pulinaṁ,
akaṁ pulinacetiyaṁ.
Ye te ahesuṁ sambuddhā,
bhavantakaraṇā munī;
Tesaṁ etādiso thūpo,
taṁ nimittaṁ karomahaṁ.
Karitvā pulinaṁ thūpaṁ,
sovaṇṇaṁ māpayiṁ ahaṁ;
Soṇṇakiṅkaṇipupphāni,
sahasse tīṇi pūjayiṁ.
Sāyaṁ pātaṁ namassāmi,
vedajāto katañjalī;
Sammukhā viya sambuddhaṁ,
vandiṁ pulinacetiyaṁ.
Yadā kilesā jāyanti,
vitakkā gehanissitā;
Sarāmi sukataṁ thūpaṁ,
paccavekkhāmi tāvade.
Upanissāya viharaṁ,
satthavāhaṁ vināyakaṁ;
Kilese saṁvaseyyāsi,
na yuttaṁ tava mārisa.
Saha āvajjite thūpe,
gāravaṁ hoti me tadā;
Kuvitakke vinodesiṁ,
nāgo tuttaṭṭito yathā.
Evaṁ viharamānaṁ maṁ,
maccurājābhimaddatha;
Tattha kālaṅkato santo,
brahmalokamagacchahaṁ.
Yāvatāyuṁ vasitvāna,
tidive upapajjahaṁ;
Asītikkhattuṁ devindo,
devarajjamakārayiṁ.
Satānaṁ tīṇikkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ;
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
gaṇanāto asaṅkhiyaṁ.
Soṇṇakiṅkaṇipupphānaṁ,
vipākaṁ anubhomahaṁ;
Dhātīsatasahassāni,
parivārenti maṁ bhave.
Thūpassa pariciṇṇattā,
rajojallaṁ na limpati;
Gatte sedā na muccanti,
suppabhāso bhavāmahaṁ.
Aho me sukato thūpo,
sudiṭṭhā marikā nadī;
Thūpaṁ katvāna pulinaṁ,
pattomhi acalaṁ padaṁ.
Kusalaṁ kattukāmena,
jantunā sāragāhinā;
Natthi khettaṁ akhettaṁ vā,
paṭipattīva sādhakā.
Yathāpi balavā poso,
aṇṇavaṁ taritussahe;
Parittaṁ kaṭṭhamādāya,
pakkhandeyya mahāsaraṁ.
Imāhaṁ kaṭṭhaṁ nissāya,
tarissāmi mahodadhiṁ;
Ussāhena vīriyena,
tareyya udadhiṁ naro.
Tatheva me kataṁ kammaṁ,
parittaṁ thokakañca yaṁ;
Taṁ kammaṁ upanissāya,
saṁsāraṁ samatikkamiṁ.
Pacchime bhave sampatte,
sukkamūlena codito;
Sāvatthiyaṁ pure jāto,
mahāsāle suaḍḍhake.
Saddhā mātā pitā mayhaṁ,
buddhassa saraṇaṁ gatā;
Ubho diṭṭhapadā ete,
anuvattanti sāsanaṁ.
Bodhipapaṭikaṁ gayha,
soṇṇathūpamakārayuṁ;
Sāyaṁ pātaṁ namassanti,
sakyaputtassa sammukhā.
Uposathamhi divase,
soṇṇathūpaṁ vinīharuṁ;
Buddhassa vaṇṇaṁ kittentā,
tiyāmaṁ vītināmayuṁ.
Saha disvānahaṁ thūpaṁ,
sariṁ pulinacetiyaṁ;
Ekāsane nisīditvā,
arahattamapāpuṇiṁ.
Dvāvīsatimaṁ bhāṇavāraṁ.
Gavesamāno taṁ vīraṁ,
dhammasenāpatiddasaṁ;
Agārā nikkhamitvāna,
pabbajiṁ tassa santike.
Jātiyā sattavassena,
arahattamapāpuṇiṁ;
Upasampādayī buddho,
guṇamaññāya cakkhumā.
Dārakeneva santena,
kiriyaṁ niṭṭhitaṁ mayā;
Kataṁ me karaṇīyajja,
sakyaputtassa sāsane.
Sabbaverabhayātīto,
sabbasaṅgātigo isi;
Sāvako te mahāvīra,
soṇṇathūpassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pulinathūpiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pulinathūpiyattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.
Walt 5304 In the Himalayan region,
there’s a mountain named Samaṅga.
I had a well-built hermitage
furnished with halls of leaves there then. Verse 1
Walt 5305 Named Nārada, with matted hair,
I practiced fierce austerities.
Fourteen thousand students back then
are worshipping me in that place. Verse 2
Walt 5306 Being off in solitude then,
I contemplated in this way:
“All of the people worship me
but I don’t worship anyone. Verse 3
Walt 5307 I do not have an advisor;
there is no one who speaks to me;
no teacher and no preceptor,
I come to a home in the woods. Verse 4
Walt 5308 There is not a teacher for me
whom I am giving honor to,
and serving with respectful heart;
my forest-dwelling’s meaningless. Verse 5
Walt 5309 I’ll search for one to give gifts to,
and to be respected by me;
I will live enjoying his help,
whom no one will find blameworthy. Verse 6
Walt 5310 Very near my hermitage,
there was a river with high banks,
with good slopes, which was beautiful
and strewn about with pure white sand. Verse 7
Walt 5311 Having approached it at that time,
the river named named Amarika,
after piling up some sand, I
built a stupa out of that sand. Verse 8
Walt 5312 “Those men who were the Sambuddhas,
Enders of Becoming, Sages,
I’ll make this with the marks of a
stupa such-like those built for them.” Verse 9
Walt 5313 Having built my stupa of sand,
as though I made it out of gold,
I covered it with three thousand
gold-colored kiṅkhani flowers. Verse 10
Walt 5314 I am praising evening and morn,
filled with joy, hands pressed together.
As though facing the Sambuddha,
I worshipped that stupa of sand. Verse 11
Walt 5315 When defilements get produced or
pre-occupations with the house,
I recall that well-made stupa,
and always look at them like this: Verse 12
Walt 5316 “Living having depended on
the Meaning-Conveyor, the Guide,
it’s not appropriate for you
to live with defilements, Good Sir. Verse 13
Walt 5317 When I bend down at the stupa,
then respect arises in me;
I drive out bad reflections like
an elephant pained by the goad. Verse 14
Walt 5318 The King of Death then trampled me,
conducting my life in that way.
Passing away right on the spot,
I went to the world of Brahmā. Verse 15
Walt 5319 Dwelling there for the whole lifespan,
I was born among the thirty.
Eighty times the lord of the gods,
I exercised divine rule there. Verse 16
Walt 5320 And then three hundred times I was
a king who turns the wheel of law,
and I enjoyed much local rule,
innumerable by counting. Verse 17
Walt 5321 I’m enjoying the results of
three thousand kiṅkhani flowers.
Twenty-two thousand people are
waiting on me in every life. Verse 18
Walt 5322 Due to worshipping the stupa,
I am not soiled with dirt and dust;
my limbs are not exuding sweat;
I’m radiantly beautiful. Verse 19
Walt 5323 O! the stupa well-made by me;
Amarika River’s well-seen!
Having built a stupa of sand,
I’ve attained the unshaking state. Verse 20
Walt 5324 “Field” or “Not-Field” aren’t distingished
by a person seeking the pith,
who desires to do wholesome deeds;
his practice is thus accomplished. Verse 21
Walt 5325-5326 Just as a person with great strength
is able to cross a river;
carrying a protective stick,
he would spring across a large lake,
so I, depending on this stick,
will cross the great sea of being:
through his effort and energy
a man would cross over the sea. Verse 22-23
Walt 5327 And so too the karma I did,
which was my little protection;
depending on that karma done,
I crossed over re-becoming. Verse 24
Walt 5328 When my last rebirth was attained,
incited by my wholesome roots,
I am reborn in Śrāvasti,
in a wealthy clan with big halls. Verse 25
Walt 5329 My mother and father had faith,
gone to the Buddha for refuge;
they had both seen the deathless state,
turning to the dispensation. Verse 26
Walt 5330 Taking bark from the Bodhi tree
they built a stupa made of gold.
They’re praising it evening and morn,
face to face with the Śākyas’ Son. Verse 27
Walt 5331 They passed three watches of the night,
praising the Buddha’s appearance,
outside the stupa made of gold,
on a day when the moon was full. Verse 28
Walt 5332 I, having seen the gold stupa,
remembered the stupa of sand.
Sitting down on a single seat,
I attained my arahantship. Verse 29
Walt 5333 The Twenty-Second Recitation Portion
Searching for him, the Great Hero,
I saw the Dhamma’s general.
Having departed from the house,
I went forth in that one’s presence. Verse 30
Walt 5334 Being only seven years old,
I attained my arahantship.
Knowing my virtue, the Buddha,
the Eyeful One, then ordained me. Verse 31
Walt 5336 The work has been completed by
me, even when I was a child;
what’s to be done was done by me,
in the Buddha’s dispensation. Verse 32
Walt 5337All hate and fear is in the past;
all bonds overcome, I’m a sage.
I’m you’re follower, Great Hero:
the fruit of a golden stupa. Verse 33
Walt 5338 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 34
Walt 5339 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 35
Walt 5340 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 36
Thus indeed Venerable Puḷinathūpiya Thera spoke these verses.
The legend of Puḷinathūpiya Thera is finished.