BJT 5341Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Hārita. Vào lúc bấy giờ, có bậc Tự Chủ tên Nārada đã cư ngụ ở tại gốc cây.
BJT 5342Tôi đã làm gian nhà bằng cây sậy và đã lợp mái bằng cỏ. Tôi đã làm sạch sẽ đường kinh hành và đã dâng cúng đến bậc Tự Chủ.
BJT 5343Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5344Tại nơi ấy, có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi, có chiều dài sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần, đã được hóa hiện ra từ căn chòi bằng cây sậy.
BJT 5345Tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên mười bốn kiếp. Và tôi đã cai quản Thiên quốc bảy mươi mốt lần.
BJT 5346Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi bốn lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 5347Sau khi bước lên tòa lâu đài Giáo Pháp tương đương với mọi biểu hiện cao quý, tôi an trú trong Giáo Pháp của người con trai dòng họ Sakya theo như ý thích.
BJT 5348Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của căn chòi bằng cây sậy.
BJT 5349Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5350Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5351Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Naḷakuṭidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Naḷakuṭidāyaka là phần thứ chín.
“Himavantassāvidūre,
hārito nāma pabbato;
Sayambhū nārado nāma,
rukkhamūle vasī tadā.
Naḷāgāraṁ karitvāna,
tiṇena chādayiṁ ahaṁ;
Caṅkamaṁ sodhayitvāna,
sayambhussa adāsahaṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Tattha me sukataṁ byamhaṁ,
naḷakuṭikanimmitaṁ;
Saṭṭhiyojanamubbedhaṁ,
tiṁsayojanavitthataṁ.
Catuddasesu kappesu,
devaloke ramiṁ ahaṁ;
Ekasattatikkhattuñca,
devarajjamakārayiṁ.
Catutiṁsatikkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ;
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
gaṇanāto asaṅkhiyaṁ.
Dhammapāsādamāruyha,
sabbākāravarūpamaṁ;
Yadicchakāhaṁ vihare,
sakyaputtassa sāsane.
Ekatiṁse ito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
naḷakuṭiyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā naḷakuṭidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Naḷakuṭidāyakattherassāpadānaṁ navamaṁ.
Walt 5341 In the Himalayan region,
there’s a mountain named Bhārika.
The Self-Become One, Nārada,
dwelt at the roots of a tree then. Verse 1
Walt 5342 Having fashioned a house of reeds,
I covered it with grass as thatch,
and clearing a walkway I then
gave them to the Self-Become One. Verse 2
Walt 5343 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 3
Walt 5344 There my well-constructed mansion,
fashioned as a little reed hut,
measured sixty leagues in length, and
it measured thirty leagues in width. Verse 4
Walt 5345 I delighted in the gods’ world
throughout fourteen aeons back then,
and later seventy-one times,
I exercised divine rule there. Verse 5
Walt 5346 And thirty-four times after that,
I was a king who turns the wheel.
There was also much local rule,
innumerable by counting. Verse 6
Walt 5347 Ascending the Teaching-palace,
in all ways a fine metaphor,
I would live there where I’m wishing,
in the Buddha’s dispensation. Verse 7
Walt 5348 In the thirty-one aeons since
I did that good karma back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
the fruit of a little reed hut. Verse 8
Walt 5349 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 9
Walt 5351 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 10
Walt 5352 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 11
Thus indeed Venerable Naḷakuṭikadāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Naḷakuṭikadāyaka Thera is finished.
BJT 5341Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Hārita. Vào lúc bấy giờ, có bậc Tự Chủ tên Nārada đã cư ngụ ở tại gốc cây.
BJT 5342Tôi đã làm gian nhà bằng cây sậy và đã lợp mái bằng cỏ. Tôi đã làm sạch sẽ đường kinh hành và đã dâng cúng đến bậc Tự Chủ.
BJT 5343Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5344Tại nơi ấy, có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi, có chiều dài sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần, đã được hóa hiện ra từ căn chòi bằng cây sậy.
BJT 5345Tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên mười bốn kiếp. Và tôi đã cai quản Thiên quốc bảy mươi mốt lần.
BJT 5346Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi bốn lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 5347Sau khi bước lên tòa lâu đài Giáo Pháp tương đương với mọi biểu hiện cao quý, tôi an trú trong Giáo Pháp của người con trai dòng họ Sakya theo như ý thích.
BJT 5348Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của căn chòi bằng cây sậy.
BJT 5349Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5350Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5351Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Naḷakuṭidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Naḷakuṭidāyaka là phần thứ chín.
“Himavantassāvidūre,
hārito nāma pabbato;
Sayambhū nārado nāma,
rukkhamūle vasī tadā.
Naḷāgāraṁ karitvāna,
tiṇena chādayiṁ ahaṁ;
Caṅkamaṁ sodhayitvāna,
sayambhussa adāsahaṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Tattha me sukataṁ byamhaṁ,
naḷakuṭikanimmitaṁ;
Saṭṭhiyojanamubbedhaṁ,
tiṁsayojanavitthataṁ.
Catuddasesu kappesu,
devaloke ramiṁ ahaṁ;
Ekasattatikkhattuñca,
devarajjamakārayiṁ.
Catutiṁsatikkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ;
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
gaṇanāto asaṅkhiyaṁ.
Dhammapāsādamāruyha,
sabbākāravarūpamaṁ;
Yadicchakāhaṁ vihare,
sakyaputtassa sāsane.
Ekatiṁse ito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
naḷakuṭiyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā naḷakuṭidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Naḷakuṭidāyakattherassāpadānaṁ navamaṁ.