BJT 5484Vào lúc bấy giờ, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu ở bên bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại.
BJT 5485Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tràn đầy niềm phấn khởi, có tay chắp lên, tôi đã cầm lấy bông hoa ajjunavà đã cúng dường đến đấng Tự Chủ.
BJT 5486Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân kim-sỉ-điểu tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5487Và tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi sáu lần. Tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương cai quản vương quốc rộng lớn mười lần.
BJT 5488Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Ôi, hạt giống của tôi đã được gieo xuống thửa ruộng tốt là đấng Tự Chủ!
BJT 5489Tôi tìm thấy điều tốt lành, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Giờ đây, tôi là vị xứng đáng sự cúng dường trong Giáo Pháp của người con trai dòng Sakya.
BJT 5490Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5491Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5492Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ajjunapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ajjunapupphiya là phần thứ sáu.
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ kinnaro tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
sayambhuṁ aparājitaṁ.
Pasannacitto sumano,
vedajāto katañjalī;
Gahetvā ajjunaṁ pupphaṁ,
sayambhuṁ abhipūjayiṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā kinnaraṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Chattiṁsakkhattuṁ devindo,
devarajjamakārayiṁ;
Dasakkhattuṁ cakkavattī,
mahārajjamakārayiṁ.
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
gaṇanāto asaṅkhiyaṁ;
Sukhette vappitaṁ bījaṁ,
sayambhumhi aho mama.
Kusalaṁ vijjate mayhaṁ,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Pūjāraho ahaṁ ajja,
sakyaputtassa sāsane.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā ajjunapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ajjunapupphiyattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.
Walt 5484 On Candabhāgā River’s bank,
I was a kinnara back then.
I saw the Buddha, Stainless One,
the Self-Become, Unconquered One. Verse 1
Walt 5485 Happy, with pleasure in my heart,
awe-struck, with hands pressed together,
taking an arjuna flower,
I worshipped the Self-Become One. Verse 2
Walt 5486 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
leaving my kinnara body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 3
Walt 5487 Thirty-four times the lord of gods,
I exercised divine rule there.
And ten times a wheel-turning king,
I exercised overlordship. Verse 4
Walt 5488 There was also much local rule,
innumerable by counting.
Like a seed sown in a good field
is mine in the Self-Become One. Verse 5
Walt 5489 Wholesome karma exists for me;
I went forth into homelessness.
Today I’m worthy of homage
in the Buddha’s dispensation. Verse 6
Walt 5490 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 7
Walt 5491 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Walt 5492 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Ajjunapupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Ajjunapupphiya Thera is finished.
BJT 5484Vào lúc bấy giờ, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu ở bên bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại.
BJT 5485Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tràn đầy niềm phấn khởi, có tay chắp lên, tôi đã cầm lấy bông hoa ajjunavà đã cúng dường đến đấng Tự Chủ.
BJT 5486Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân kim-sỉ-điểu tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5487Và tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi sáu lần. Tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương cai quản vương quốc rộng lớn mười lần.
BJT 5488Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Ôi, hạt giống của tôi đã được gieo xuống thửa ruộng tốt là đấng Tự Chủ!
BJT 5489Tôi tìm thấy điều tốt lành, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Giờ đây, tôi là vị xứng đáng sự cúng dường trong Giáo Pháp của người con trai dòng Sakya.
BJT 5490Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5491Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5492Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ajjunapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ajjunapupphiya là phần thứ sáu.
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ kinnaro tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
sayambhuṁ aparājitaṁ.
Pasannacitto sumano,
vedajāto katañjalī;
Gahetvā ajjunaṁ pupphaṁ,
sayambhuṁ abhipūjayiṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā kinnaraṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Chattiṁsakkhattuṁ devindo,
devarajjamakārayiṁ;
Dasakkhattuṁ cakkavattī,
mahārajjamakārayiṁ.
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
gaṇanāto asaṅkhiyaṁ;
Sukhette vappitaṁ bījaṁ,
sayambhumhi aho mama.
Kusalaṁ vijjate mayhaṁ,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Pūjāraho ahaṁ ajja,
sakyaputtassa sāsane.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā ajjunapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ajjunapupphiyattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.