BJT 438Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, tôi đã dẫn đầu các học trò đi đến gặp bậc Tối Thượng Nhân.
BJT 439Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Đại Hiền Trí đã tán dương việc làm của tôi một cách ngắn gọn.
BJT 440Sau khi lắng nghe Giáo Pháp ấy, tôi đã đảnh lễ bậc Đạo Sư. Tôi đã chắp tay lên và đã ra đi, mặt hướng phía bên phải.
BJT 441Sau khi lắng nghe một cách tóm tắt, tôi đã thuyết giảng một cách chi tiết. Sau khi lắng nghe lời giảng của tôi, tất cả những người học trò đều có tâm hoan hỷ.
BJT 442Sau khi xua đi tà kiến của mình, họ đã khiến tâm được tịnh tín vào đức Phật. Tôi cũng thuyết giảng một cách tóm tắt, một cách chi tiết tương tợ y như thế.
BJT 443Là người biết rõ đường hướng của Vi Diệu Pháp, thông thạo về các đề tài thuyết giảng, sau khi làm cho tất cả hiểu rõ, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 444Trước đây năm trăm kiếp, có bốn vị chúa tể ở bốn châu lục là những vị vô cùng nổi tiếng, được thành tựu bảy loại báu vật.
BJT 445Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Puṇṇa Mantāniputta đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Puṇṇa Mantāniputta là phần thứ năm.
“Ajjhāyako mantadharo,
tiṇṇaṁ vedāna pāragū;
Purakkhatomhi sissehi,
upagacchiṁ naruttamaṁ.
Padumuttaro lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Mama kammaṁ pakittesi,
saṅkhittena mahāmuni.
Tāhaṁ dhammaṁ suṇitvāna,
Abhivādetvāna satthuno;
Añjaliṁ paggahetvāna,
Pakkamiṁ dakkhiṇāmukho.
Saṅkhittena suṇitvāna,
vitthārena abhāsayiṁ;
Sabbe sissā attamanā,
sutvāna mama bhāsato;
Sakaṁ diṭṭhiṁ vinodetvā,
buddhe cittaṁ pasādayuṁ.
Saṅkhittenapi desemi,
vitthārena tathevahaṁ;
Abhidhammanayaññūhaṁ,
kathāvatthuvisuddhiyā;
Sabbesaṁ viññāpetvāna,
viharāmi anāsavo.
Ito pañcasate kappe,
caturo suppakāsakā;
Sattaratanasampannā,
catudīpamhi issarā.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā puṇṇo mantāṇiputto thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Puṇṇamantāṇiputtattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.
Walt 438 I was a learned mantra-knower
who had mastered the three Vedas.
Heading up my group of students
I approached him, the Best of Men. Verse 1
Walt 439 Padumuttara, World-Knower,
Sacrificial Recipient,
the Great Sage then proclaimed to me
karma, with the explanation. Verse 2
Walt 440 After having heard the Teaching,
and having worshipped the Teacher
I held my hands up pressed together
then departed facing the south. Verse 3
Walt 441 Having heard the explanation
I then preached with more expansion.
All the students were delighted
to have listened to my words then. Verse 4
Walt 442 Quitting my own philosophy
my heart was pleased in the Buddha.
Then I preached with explanation
and with the further expansion. Verse 5
Walt 443 A knower of Abhidhamma
clear about the Kathāvatthu,
providing instruction to all,
I’m living without defilements. Verse 6
Walt 444 Five hundred aeons after that
I was lord of four continents,
the clever Suppakāsaka
possessor of the seven gems. Verse 7
Walt 445 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Puṇṇa Mantāṇiputta Thera spoke these verses.
The legend of Puṇṇa Mantāṇiputta Thera is finished.
BJT 438Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, tôi đã dẫn đầu các học trò đi đến gặp bậc Tối Thượng Nhân.
BJT 439Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Đại Hiền Trí đã tán dương việc làm của tôi một cách ngắn gọn.
BJT 440Sau khi lắng nghe Giáo Pháp ấy, tôi đã đảnh lễ bậc Đạo Sư. Tôi đã chắp tay lên và đã ra đi, mặt hướng phía bên phải.
BJT 441Sau khi lắng nghe một cách tóm tắt, tôi đã thuyết giảng một cách chi tiết. Sau khi lắng nghe lời giảng của tôi, tất cả những người học trò đều có tâm hoan hỷ.
BJT 442Sau khi xua đi tà kiến của mình, họ đã khiến tâm được tịnh tín vào đức Phật. Tôi cũng thuyết giảng một cách tóm tắt, một cách chi tiết tương tợ y như thế.
BJT 443Là người biết rõ đường hướng của Vi Diệu Pháp, thông thạo về các đề tài thuyết giảng, sau khi làm cho tất cả hiểu rõ, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 444Trước đây năm trăm kiếp, có bốn vị chúa tể ở bốn châu lục là những vị vô cùng nổi tiếng, được thành tựu bảy loại báu vật.
BJT 445Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Puṇṇa Mantāniputta đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Puṇṇa Mantāniputta là phần thứ năm.
“Ajjhāyako mantadharo,
tiṇṇaṁ vedāna pāragū;
Purakkhatomhi sissehi,
upagacchiṁ naruttamaṁ.
Padumuttaro lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Mama kammaṁ pakittesi,
saṅkhittena mahāmuni.
Tāhaṁ dhammaṁ suṇitvāna,
Abhivādetvāna satthuno;
Añjaliṁ paggahetvāna,
Pakkamiṁ dakkhiṇāmukho.
Saṅkhittena suṇitvāna,
vitthārena abhāsayiṁ;
Sabbe sissā attamanā,
sutvāna mama bhāsato;
Sakaṁ diṭṭhiṁ vinodetvā,
buddhe cittaṁ pasādayuṁ.
Saṅkhittenapi desemi,
vitthārena tathevahaṁ;
Abhidhammanayaññūhaṁ,
kathāvatthuvisuddhiyā;
Sabbesaṁ viññāpetvāna,
viharāmi anāsavo.
Ito pañcasate kappe,
caturo suppakāsakā;
Sattaratanasampannā,
catudīpamhi issarā.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā puṇṇo mantāṇiputto thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Puṇṇamantāṇiputtattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.