BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có sự thất niệm đối với vị A-la-hán?”
“Tâu đại vương, các vị A-la-hán có các sự thất niệm đã được xa lìa. Đối với các vị A-la-hán không có sự thất niệm.”
“Thưa ngài, phải chăng vị A-la-hán có thể vi phạm tội?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Về sự việc gì?”
“Tâu đại vương, về việc làm cốc liêu, về việc mai mối, vào lúc sái thời (lầm) tưởng là lúc đúng thời, về vị đã ngăn (lầm) tưởng là chưa ngăn (vật thực dâng thêm), không phải thức ăn thừa (lầm) tưởng là thức ăn thừa.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Những vị nào phạm tội, những vị ấy phạm bởi hai lý do: Vì không tôn trọng hoặc là do không biết.’ Thưa ngài, có phải việc vị A-la-hán phạm tội là vì vị A-la-hán có sự không tôn trọng?”
“Tâu đại vương, không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu vị A-la-hán phạm tội, và không có sự không tôn trọng ở vị A-la-hán, như thế thì có sự thất niệm ở vị A-la-hán?”
“Tâu đại vương, không có sự thất niệm ở vị A-la-hán, và có việc vị A-la-hán phạm tội.”
“Thưa ngài, như thế thì xin ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ. Ở đây, cái gì là lý do?”
BJT 2“Tâu đại vương, đây là hai loại ô nhiễm: ‘Tội lỗi đối với thế gian và tội lỗi do sự quy định.’ Tâu đại vương, tội lỗi đối với thế gian là việc nào? Mười loại nghiệp bất thiện. Việc này được gọi là tội lỗi đối với thế gian. Tội lỗi do sự quy định là việc nào? Việc nào ở thế gian là không đúng đắn, không hợp lẽ đối với hàng Sa-môn, nhưng không phải là tội lỗi đối với hàng tại gia, trong trường hợp ấy đức Thế Tôn quy định điều học cho các đệ tử, cho đến trọn đời không được vượt qua. Tâu đại vương, vật thực sái giờ không là tội lỗi đối với thế gian, điều ấy là tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Việc làm tổn thương thảo mộc không là tội lỗi đối với thế gian, điều ấy là tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Việc chơi giỡn ở trong nước không là tội lỗi đối với thế gian, điều ấy là tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Tâu đại vương, các hình thức như thế và tương tợ là các tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Việc này được gọi là tội lỗi do sự quy định.
Loại ô nhiễm nào là tội lỗi đối với thế gian, bậc Lậu Tận không thể vi phạm việc ấy; còn loại ô nhiễm nào là tội lỗi do sự quy định, trong khi không biết, có thể vi phạm việc ấy. Tâu đại vương, đối với một vị A-la-hán thì không có trình độ để biết tất cả, bởi vì đối với vị ấy không có năng lực để biết tất cả.
Tâu đại vương, đối với vị A-la-hán tên họ của những người nữ người nam là không được biết; đối với vị ấy đường xá ở trái đất là không được biết. Tâu đại vương, một vị A-la-hán có thể chỉ biết về sự giải thoát. Vị A-la-hán có sáu Thắng Trí có thể biết về lãnh vực của mình. Tâu đại vương, chỉ có đức Như Lai, đấng Toàn Tri, là biết tất cả.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự thất niệm của vị A-la-hán là thứ ba.
“Bhante nāgasena, atthi arahato satisammoso”ti?
“Vigatasatisammosā kho, mahārāja, arahanto, natthi arahantānaṁ satisammoso”ti.
“Āpajjeyya pana, bhante, arahā āpattin”ti?
“Āma, mahārājā”ti.
“Kismiṁ vatthusmin”ti?
“Kuṭikāre, mahārāja, sañcaritte, vikāle kālasaññāya, pavārite appavāritasaññāya, anatiritte atirittasaññāyā”ti.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘ye āpattiṁ āpajjanti, te dvīhi kāraṇehi āpajjanti anādariyena vā ajānanena vā’ti.
Api nu kho, bhante, arahato anādariyaṁ hoti, yaṁ arahā āpattiṁ āpajjatī”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, arahā āpattiṁ āpajjati, natthi ca arahato anādariyaṁ, tena hi atthi arahato satisammoso”ti?
“Natthi, mahārāja, arahato satisammoso, āpattiñca arahā āpajjatī”ti.
“Tena hi, bhante, kāraṇena maṁ saññāpehi, kiṁ tattha kāraṇan”ti?
“Dveme, mahārāja, kilesā lokavajjaṁ paṇṇattivajjañcāti.
Katamaṁ, mahārāja, lokavajjaṁ?
Dasa akusalakammapathā, idaṁ vuccati lokavajjaṁ.
Katamaṁ paṇṇattivajjaṁ?
Yaṁ loke atthi samaṇānaṁ ananucchavikaṁ ananulomikaṁ, gihīnaṁ anavajjaṁ.
Tattha bhagavā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapeti ‘yāvajīvaṁ anatikkamanīyan’ti.
Vikālabhojanaṁ, mahārāja, lokassa anavajjaṁ, taṁ jinasāsane vajjaṁ.
Bhūtagāmavikopanaṁ, mahārāja, lokassa anavajjaṁ, taṁ jinasāsane vajjaṁ.
Udake hassadhammaṁ, mahārāja, lokassa anavajjaṁ, taṁ jinasāsane vajjaṁ.
Iti evarūpāni evarūpāni, mahārāja, jinasāsane vajjāni, idaṁ vuccati paṇṇattivajjaṁ.
Lokavajjaṁ abhabbo khīṇāsavo taṁ ajjhācarituṁ.
Yaṁ kilesaṁ paṇṇattivajjaṁ, taṁ ajānanto āpajjeyya.
Avisayo, mahārāja, ekaccassa arahato sabbaṁ jānituṁ, na hi tassa balaṁ atthi sabbaṁ jānituṁ.
Anaññātaṁ, mahārāja, arahato itthipurisānaṁ nāmampi gottampi, maggopi tassa mahiyā anaññāto;
vimuttiṁyeva, mahārāja, ekacco arahā jāneyya;
chaḷabhiñño arahā sakavisayaṁ jāneyya;
sabbaññū, mahārāja, tathāgatova sabbaṁ jānātī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Khīṇāsavasatisammosapañho tatiyo.
PTS cs 9 ‘Venerable Nāgasena, can an Arahat be thoughtless ?’
‘The Arahats, O king, have put thoughtlessness far from them. They are never inadvertent.’
‘But can an Arahat be guilty of an offence?’
‘Yes, O king.’
‘In what respect?’
‘In the construction of his cell, or in his intercourse (with the other sex), or in imagining the wrong time (for the midday meal) to be the right PTS vp En 99 time, or when he has been invited (to a meal) forgetting the invitation, or in taking to be “left over “ food which has not been left over.’
‘But, venerable Nāgasena, your people say:
“Those who commit offences do so from one of two reasons, either out of carelessness or out of ignorance.”
‘Now, is the Arahat careless that he commits offences?’
‘No, O king.’
‘Then if the Arahat commits offences, and yet is not careless, he must be capable of thoughtlessness.’
‘He is not capable of thoughtlessness, and yet the Arahat may be guilty of offences.’
‘Convince me then by a reason. What is the reason of this?’
PTS cs 10 ‘There are two kinds of sins, O king—those which are a breach of the ordinary moral law, and those which are a breach of the Rules (of the Order). And what is a breach of the ordinary moral law? the ten modes of evil action (killing, theft, PTS vp En 100 unchastity, lying, slander, harsh language, frivolous talk, covetousness, malice, and false doctrine). These things are against the moral law. And what is a breach of the Rules? Whatever is held in the world as unfitting and improper for Samanas, but is not wrong for laymen—things concerning which the Blessed One laid down rules for his disciples, not to be transgressed by them their lives long. Eating after sunturn, O king, is not wrong to those in the world, but is wrong to those in the religion (the Order) of the Conquerors. Doing injury to trees and shrubs is no offence in the eyes of the world, but it is wrong in the religion. The habit of sporting in the water is no offence to a layman, but it is wrong in the religion. And many other things of a similar kind, O king, are right in the world, but wrong in the religion of the Conquerors. This is what I mean by a breach of the Rules. Now the Arahat (he in whom the Great Evils are destroyed) is incapable of sinning against whatever is moral law, but he may unawares be guilty of an offence against the rules of the Order. PTS vp Pali 267 It is not within the province of every Arahat to know everything, nor indeed in his power. He may be ignorant of the personal or family name of some woman or some man. He may be ignorant of some road over the earth. But every Arahat would know about emancipation, and the Arahat gifted with the six modes of transcendental knowledge would know what lies within their scope, and an omniscient Tathāgata, O king, would know all things.’ PTS vp En 101
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the faults of the Arahat.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có sự thất niệm đối với vị A-la-hán?”
“Tâu đại vương, các vị A-la-hán có các sự thất niệm đã được xa lìa. Đối với các vị A-la-hán không có sự thất niệm.”
“Thưa ngài, phải chăng vị A-la-hán có thể vi phạm tội?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Về sự việc gì?”
“Tâu đại vương, về việc làm cốc liêu, về việc mai mối, vào lúc sái thời (lầm) tưởng là lúc đúng thời, về vị đã ngăn (lầm) tưởng là chưa ngăn (vật thực dâng thêm), không phải thức ăn thừa (lầm) tưởng là thức ăn thừa.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Những vị nào phạm tội, những vị ấy phạm bởi hai lý do: Vì không tôn trọng hoặc là do không biết.’ Thưa ngài, có phải việc vị A-la-hán phạm tội là vì vị A-la-hán có sự không tôn trọng?”
“Tâu đại vương, không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu vị A-la-hán phạm tội, và không có sự không tôn trọng ở vị A-la-hán, như thế thì có sự thất niệm ở vị A-la-hán?”
“Tâu đại vương, không có sự thất niệm ở vị A-la-hán, và có việc vị A-la-hán phạm tội.”
“Thưa ngài, như thế thì xin ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ. Ở đây, cái gì là lý do?”
BJT 2“Tâu đại vương, đây là hai loại ô nhiễm: ‘Tội lỗi đối với thế gian và tội lỗi do sự quy định.’ Tâu đại vương, tội lỗi đối với thế gian là việc nào? Mười loại nghiệp bất thiện. Việc này được gọi là tội lỗi đối với thế gian. Tội lỗi do sự quy định là việc nào? Việc nào ở thế gian là không đúng đắn, không hợp lẽ đối với hàng Sa-môn, nhưng không phải là tội lỗi đối với hàng tại gia, trong trường hợp ấy đức Thế Tôn quy định điều học cho các đệ tử, cho đến trọn đời không được vượt qua. Tâu đại vương, vật thực sái giờ không là tội lỗi đối với thế gian, điều ấy là tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Việc làm tổn thương thảo mộc không là tội lỗi đối với thế gian, điều ấy là tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Việc chơi giỡn ở trong nước không là tội lỗi đối với thế gian, điều ấy là tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Tâu đại vương, các hình thức như thế và tương tợ là các tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Việc này được gọi là tội lỗi do sự quy định.
Loại ô nhiễm nào là tội lỗi đối với thế gian, bậc Lậu Tận không thể vi phạm việc ấy; còn loại ô nhiễm nào là tội lỗi do sự quy định, trong khi không biết, có thể vi phạm việc ấy. Tâu đại vương, đối với một vị A-la-hán thì không có trình độ để biết tất cả, bởi vì đối với vị ấy không có năng lực để biết tất cả.
Tâu đại vương, đối với vị A-la-hán tên họ của những người nữ người nam là không được biết; đối với vị ấy đường xá ở trái đất là không được biết. Tâu đại vương, một vị A-la-hán có thể chỉ biết về sự giải thoát. Vị A-la-hán có sáu Thắng Trí có thể biết về lãnh vực của mình. Tâu đại vương, chỉ có đức Như Lai, đấng Toàn Tri, là biết tất cả.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự thất niệm của vị A-la-hán là thứ ba.
“Bhante nāgasena, atthi arahato satisammoso”ti?
“Vigatasatisammosā kho, mahārāja, arahanto, natthi arahantānaṁ satisammoso”ti.
“Āpajjeyya pana, bhante, arahā āpattin”ti?
“Āma, mahārājā”ti.
“Kismiṁ vatthusmin”ti?
“Kuṭikāre, mahārāja, sañcaritte, vikāle kālasaññāya, pavārite appavāritasaññāya, anatiritte atirittasaññāyā”ti.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘ye āpattiṁ āpajjanti, te dvīhi kāraṇehi āpajjanti anādariyena vā ajānanena vā’ti.
Api nu kho, bhante, arahato anādariyaṁ hoti, yaṁ arahā āpattiṁ āpajjatī”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, arahā āpattiṁ āpajjati, natthi ca arahato anādariyaṁ, tena hi atthi arahato satisammoso”ti?
“Natthi, mahārāja, arahato satisammoso, āpattiñca arahā āpajjatī”ti.
“Tena hi, bhante, kāraṇena maṁ saññāpehi, kiṁ tattha kāraṇan”ti?
“Dveme, mahārāja, kilesā lokavajjaṁ paṇṇattivajjañcāti.
Katamaṁ, mahārāja, lokavajjaṁ?
Dasa akusalakammapathā, idaṁ vuccati lokavajjaṁ.
Katamaṁ paṇṇattivajjaṁ?
Yaṁ loke atthi samaṇānaṁ ananucchavikaṁ ananulomikaṁ, gihīnaṁ anavajjaṁ.
Tattha bhagavā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapeti ‘yāvajīvaṁ anatikkamanīyan’ti.
Vikālabhojanaṁ, mahārāja, lokassa anavajjaṁ, taṁ jinasāsane vajjaṁ.
Bhūtagāmavikopanaṁ, mahārāja, lokassa anavajjaṁ, taṁ jinasāsane vajjaṁ.
Udake hassadhammaṁ, mahārāja, lokassa anavajjaṁ, taṁ jinasāsane vajjaṁ.
Iti evarūpāni evarūpāni, mahārāja, jinasāsane vajjāni, idaṁ vuccati paṇṇattivajjaṁ.
Lokavajjaṁ abhabbo khīṇāsavo taṁ ajjhācarituṁ.
Yaṁ kilesaṁ paṇṇattivajjaṁ, taṁ ajānanto āpajjeyya.
Avisayo, mahārāja, ekaccassa arahato sabbaṁ jānituṁ, na hi tassa balaṁ atthi sabbaṁ jānituṁ.
Anaññātaṁ, mahārāja, arahato itthipurisānaṁ nāmampi gottampi, maggopi tassa mahiyā anaññāto;
vimuttiṁyeva, mahārāja, ekacco arahā jāneyya;
chaḷabhiñño arahā sakavisayaṁ jāneyya;
sabbaññū, mahārāja, tathāgatova sabbaṁ jānātī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Khīṇāsavasatisammosapañho tatiyo.