VÀ KHÔNG SANH RA DO NGHIỆP
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ở đây những cái nào là sanh ra do nghiệp, những cái nào là sanh ra do nhân, những cái nào sanh ra do mùa tiết, những cái nào không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết?”
BJT 2“Tâu đại vương, những chúng sanh nào có suy tư, tất cả các hạng ấy là sanh ra do nghiệp. Lửa và tất cả các thứ được sanh ra từ hạt giống là sanh ra do nhân. Trái đất, núi, nước, và gió, tất cả các thứ ấy là sanh ra do mùa tiết. Hư không và Niết Bàn, đây là hai thứ không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết. Tâu đại vương, hơn nữa Niết Bàn không nên được nói là ‘sanh ra do nghiệp,’ ‘sanh ra do nhân,’ ‘sanh ra do mùa tiết,’ ‘được sanh lên,’ hoặc là ‘không được sanh lên,’ hoặc là ‘sẽ được làm cho sanh lên,’ hoặc là ‘quá khứ,’ hoặc là ‘hiện tại,’ hoặc là ‘vị lai,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi mắt,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi tai,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi mũi,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi lưỡi,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi thân.’ Tâu đại vương, Niết Bàn là được nhận thức bởi ý, vị đệ tử của bậc Thánh thực hành đúng đắn nhìn thấy Niết Bàn với tâm ý trong sạch.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi thú vị đã khéo được giải quyết, sự không còn nghi ngờ đã được xác định, sự phân vân đã được chặt đứt, ngài đã tiến đến vị thế cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng.”
Câu hỏi về vật sanh ra do nghiệp
và không sanh ra do nghiệp là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, katame ettha kammajā, katame hetujā, katame utujā, katame na kammajā, na hetujā, na utujā”ti?
“Ye keci, mahārāja, sattā sacetanā, sabbe te kammajā;
aggi ca sabbāni ca bījajātāni hetujāni;
pathavī ca pabbatā ca udakañca vāto ca, sabbe te utujā;
ākāso ca nibbānañca ime dve akammajā ahetujā anutujā.
Nibbānaṁ pana, mahārāja, na vattabbaṁ kammajanti vā hetujanti vā utujanti vā uppannanti vā anuppannanti vā uppādanīyanti vā atītanti vā anāgatanti vā paccuppannanti vā cakkhuviññeyyanti vā sotaviññeyyanti vā ghānaviññeyyanti vā jivhāviññeyyanti vā kāyaviññeyyanti vā, api ca, mahārāja, manoviññeyyaṁ nibbānaṁ, yaṁ so sammāpaṭipanno ariyasāvako visuddhena ñāṇena passatī”ti.
“Ramaṇīyo, bhante nāgasena, pañho suvinicchito nissaṁsayo ekantagato, vimati uppacchinnā, tvaṁ gaṇivarapavaramāsajjā”ti.
Kammajādipañho chaṭṭho.
PTS cs 18 ‘Venerable Nāgasena, what are they who are said, in this connection, to be “Karma-born,” and “cause-born,” and “season-born”? And what is it that is none of these?’
‘All beings, O king, who are conscious, are Karma-born (spring into existence as the result of Karma). Fire, and all things growing out of seeds, are cause-born (the result of a pre-existing material cause). The earth, and the hills, water, and wind—all these are season-born (depend for their existence on reasons connected with weather). Space and Nirvāṇa exist independently alike of Karma, and cause, PTS vp En 108 and seasons. Of Nirvāṇa, O king, it cannot be said that it is Karma-born or cause-born or season-born; that it has been, or has not been, or can be produced, that it is past or future or present, that it is perceptible by the eye or the nose or the ear or the tongue or by the sense of touch. But it is perceptible, O king, by the mind. By means of his pure heart, refined and straight, free from the obstacles, free from low cravings, that disciple of the Noble Ones who has fully attained can see Nirvāṇa.’
‘Well has this delightful puzzle, venerable Nāgasena, been examined into, cleared of doubt, brought into certitude. My perplexity has been put an end to as soon as I consulted you, O best of the best of the leaders of schools!’
Here ends the dilemma as to modes of production.
VÀ KHÔNG SANH RA DO NGHIỆP
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ở đây những cái nào là sanh ra do nghiệp, những cái nào là sanh ra do nhân, những cái nào sanh ra do mùa tiết, những cái nào không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết?”
BJT 2“Tâu đại vương, những chúng sanh nào có suy tư, tất cả các hạng ấy là sanh ra do nghiệp. Lửa và tất cả các thứ được sanh ra từ hạt giống là sanh ra do nhân. Trái đất, núi, nước, và gió, tất cả các thứ ấy là sanh ra do mùa tiết. Hư không và Niết Bàn, đây là hai thứ không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết. Tâu đại vương, hơn nữa Niết Bàn không nên được nói là ‘sanh ra do nghiệp,’ ‘sanh ra do nhân,’ ‘sanh ra do mùa tiết,’ ‘được sanh lên,’ hoặc là ‘không được sanh lên,’ hoặc là ‘sẽ được làm cho sanh lên,’ hoặc là ‘quá khứ,’ hoặc là ‘hiện tại,’ hoặc là ‘vị lai,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi mắt,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi tai,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi mũi,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi lưỡi,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi thân.’ Tâu đại vương, Niết Bàn là được nhận thức bởi ý, vị đệ tử của bậc Thánh thực hành đúng đắn nhìn thấy Niết Bàn với tâm ý trong sạch.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi thú vị đã khéo được giải quyết, sự không còn nghi ngờ đã được xác định, sự phân vân đã được chặt đứt, ngài đã tiến đến vị thế cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng.”
Câu hỏi về vật sanh ra do nghiệp
và không sanh ra do nghiệp là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, katame ettha kammajā, katame hetujā, katame utujā, katame na kammajā, na hetujā, na utujā”ti?
“Ye keci, mahārāja, sattā sacetanā, sabbe te kammajā;
aggi ca sabbāni ca bījajātāni hetujāni;
pathavī ca pabbatā ca udakañca vāto ca, sabbe te utujā;
ākāso ca nibbānañca ime dve akammajā ahetujā anutujā.
Nibbānaṁ pana, mahārāja, na vattabbaṁ kammajanti vā hetujanti vā utujanti vā uppannanti vā anuppannanti vā uppādanīyanti vā atītanti vā anāgatanti vā paccuppannanti vā cakkhuviññeyyanti vā sotaviññeyyanti vā ghānaviññeyyanti vā jivhāviññeyyanti vā kāyaviññeyyanti vā, api ca, mahārāja, manoviññeyyaṁ nibbānaṁ, yaṁ so sammāpaṭipanno ariyasāvako visuddhena ñāṇena passatī”ti.
“Ramaṇīyo, bhante nāgasena, pañho suvinicchito nissaṁsayo ekantagato, vimati uppacchinnā, tvaṁ gaṇivarapavaramāsajjā”ti.
Kammajādipañho chaṭṭho.