BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, mặt trời này luôn luôn chiếu sáng thô tháo, hay là vào lúc nào đó thì chiếu sáng yếu ớt?”
“Tâu đại vương, mặt trời luôn luôn chiếu sáng thô tháo, và không lúc nào chiếu sáng yếu ớt.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu mặt trời luôn luôn chiếu sáng thô tháo, vậy thì tại sao mặt trời một đôi khi chiếu sáng thô tháo, một đôi khi chiếu sáng yếu ớt?”
BJT 2“Tâu đại vương, bốn điều này là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi một bệnh nào đó trong bốn bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Bốn bệnh nào? Tâu đại vương, mây là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Tâu đại vương, sương mù là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Tâu đại vương, mưa là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Tâu đại vương, nhật thực là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Tâu đại vương, bốn điều này là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi một bệnh nào đó trong bốn bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Đối với vật có năng lượng thậm chí cho đến mặt trời mà bệnh còn sanh khởi, vậy thì có điều gì đối với những chúng sanh khác? Thưa ngài, cách phân loại này không có ở người khác, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy.”
Câu hỏi về sự chiếu sáng của mặt trời là thứ chín.
“Bhante nāgasena, ayaṁ sūriyo sabbakālaṁ kaṭhinaṁ tapati, udāhu kiñcikālaṁ mandaṁ tapatī”ti?
“Sabbakālaṁ, mahārāja, sūriyo kaṭhinaṁ tapati, na kiñcikālaṁ mandaṁ tapatī”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, sūriyo sabbakālaṁ kaṭhinaṁ tapati, kissa pana appekadā sūriyo kaṭhinaṁ tapati, appekadā mandaṁ tapatī”ti?
“Cattārome, mahārāja, sūriyassa rogā, yesaṁ aññatarena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Katame cattāro?
Abbhaṁ, mahārāja, sūriyassa rogo, tena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Mahikā, mahārāja, sūriyassa rogo, tena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Megho, mahārāja, sūriyassa rogo, tena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Rāhu, mahārāja, sūriyassa rogo, tena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Ime kho, mahārāja, cattāro sūriyassa rogā, yesaṁ aññatarena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapatī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, abbhutaṁ, bhante nāgasena, sūriyassapi tāva tejosampannassa rogo uppajjissati, kimaṅgaṁ pana aññesaṁ sattānaṁ, natthi, bhante, esā vibhatti aññassa aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
Sūriyatapanapañho navamo.
PTS cs 22 ‘Venerable Nāgasena, does this sun always burn fiercely, or are there times when it shines with diminished heat?’
‘It always burns fiercely, O king, never gently.’
‘But if that be so, how is it that the heat of the sun is sometimes fierce, and sometimes not ?’
PTS cs 23 ‘There are four derangements, O king, which happen to the sun, and affected by one or other of these its heat is allayed. And what are the four? the clouds, O king, and fog, and PTS vp En 112 smoke, and eclipses —these are the four derangements which happen to the sun, and it is when affected by one or other of these that its heat is allayed.’
‘Most wonderful, Nāgasena, and most strange PTS vp Pali 274 that even the sun, so transcendent in glory, should suffer from derangement-how much more then other, lesser, creatures. No one else could have made this explanation except one wise like you!’
Here ends the dilemma as to the heat of the sun.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, mặt trời này luôn luôn chiếu sáng thô tháo, hay là vào lúc nào đó thì chiếu sáng yếu ớt?”
“Tâu đại vương, mặt trời luôn luôn chiếu sáng thô tháo, và không lúc nào chiếu sáng yếu ớt.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu mặt trời luôn luôn chiếu sáng thô tháo, vậy thì tại sao mặt trời một đôi khi chiếu sáng thô tháo, một đôi khi chiếu sáng yếu ớt?”
BJT 2“Tâu đại vương, bốn điều này là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi một bệnh nào đó trong bốn bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Bốn bệnh nào? Tâu đại vương, mây là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Tâu đại vương, sương mù là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Tâu đại vương, mưa là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Tâu đại vương, nhật thực là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt. Tâu đại vương, bốn điều này là bệnh của mặt trời, bị quấy nhiễu bởi một bệnh nào đó trong bốn bệnh ấy, mặt trời chiếu sáng yếu ớt.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Đối với vật có năng lượng thậm chí cho đến mặt trời mà bệnh còn sanh khởi, vậy thì có điều gì đối với những chúng sanh khác? Thưa ngài, cách phân loại này không có ở người khác, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy.”
Câu hỏi về sự chiếu sáng của mặt trời là thứ chín.
“Bhante nāgasena, ayaṁ sūriyo sabbakālaṁ kaṭhinaṁ tapati, udāhu kiñcikālaṁ mandaṁ tapatī”ti?
“Sabbakālaṁ, mahārāja, sūriyo kaṭhinaṁ tapati, na kiñcikālaṁ mandaṁ tapatī”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, sūriyo sabbakālaṁ kaṭhinaṁ tapati, kissa pana appekadā sūriyo kaṭhinaṁ tapati, appekadā mandaṁ tapatī”ti?
“Cattārome, mahārāja, sūriyassa rogā, yesaṁ aññatarena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Katame cattāro?
Abbhaṁ, mahārāja, sūriyassa rogo, tena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Mahikā, mahārāja, sūriyassa rogo, tena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Megho, mahārāja, sūriyassa rogo, tena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Rāhu, mahārāja, sūriyassa rogo, tena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapati.
Ime kho, mahārāja, cattāro sūriyassa rogā, yesaṁ aññatarena rogena paṭipīḷito sūriyo mandaṁ tapatī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante nāgasena, abbhutaṁ, bhante nāgasena, sūriyassapi tāva tejosampannassa rogo uppajjissati, kimaṅgaṁ pana aññesaṁ sattānaṁ, natthi, bhante, esā vibhatti aññassa aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
Sūriyatapanapañho navamo.