BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, các ngươi hãy sống có sự vui thích ở pháp không chướng ngại, có sự thích thú ở pháp không chướng ngại.’ Pháp không chướng ngại ấy là pháp nào?”
“Tâu đại vương, quả vị Nhập Lưu là pháp không chướng ngại, quả vị Nhất Lai là pháp không chướng ngại, quả vị Bất Lai là pháp không chướng ngại, quả vị A-la-hán là pháp không chướng ngại.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu quả vị Nhập Lưu là pháp không chướng ngại, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán là pháp không chướng ngại, vậy thì tại sao các vị tỳ khưu này lại đọc tụng, lại học hỏi về (chín thể loại:) suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ,”
lại bị chướng ngại vì công trình mới, vì việc bố thí, và vì việc cúng dường? Không lẽ các vị lại tiến hành công việc đã bị đấng Chiến Thắng từ khước?”
BJT 2“Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào đọc tụng, học hỏi về (chín thể loại:) suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ, bị chướng ngại vì công trình mới, vì việc bố thí, và vì việc cúng dường, tất cả những vị ấy làm nhằm đạt được pháp không chướng ngại.
Tâu đại vương, những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì có được pháp không chướng ngại. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy có được pháp không chướng ngại với các sự gắng sức này.
Tâu đại vương, giống như một người nam sau khi gieo hạt giống ở thửa ruộng, rồi trồng trọt cây lúa bằng sức mạnh và nỗ lực của bản thân, không cần tường thành và hàng rào. Một người nam (khác) sau khi gieo hạt giống ở thửa ruộng, thì đi vào rừng chặt cành cây và nhánh cây làm hàng rào và tường, rồi trồng trọt cây lúa; trong trường hợp ấy việc tầm cầu hàng rào và tường thành của người ấy là vì mong muốn đạt được cây lúa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì có được pháp không chướng ngại, tợ như người nam có sự trồng trọt cây lúa không cần hàng rào và tường thành. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy có được pháp không chướng ngại với các sự gắng sức này, ví như người nam có sự trồng trọt cây lúa sau khi đã làm hàng rào và tường thành.
Tâu đại vương, hoặc là giống như có chùm trái ở ngọn cây xoài cao to vĩ đại, rồi một người nào đó, có thần thông, sau khi đi đến nơi ấy có thể hái trái của cây ấy. Trái lại, tại nơi ấy người nào không có thần thông, người ấy chặt cành cây và dây leo rồi buộc thành cái thang, nhờ nó leo lên cây ấy, rồi hái trái; trong trường hợp ấy, việc tầm cầu cái thang của người ấy là vì mong muốn đạt được trái cây.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì có được pháp không chướng ngại, tợ như người có thần thông hái được trái cây. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy chứng ngộ các Chân Lý với các sự gắng sức này, tợ như người nam hái được trái cây nhờ vào cái thang.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như một người nam là ngưòi làm theo chỉ tiêu, chỉ một mình đi đến gặp người chủ rồi hoàn thành chỉ tiêu. Một người (khác) có tài sản, phát triển đồ chúng nhờ vào năng lực của tài sản, rồi hoàn thành chỉ tiêu cùng với đồ chúng; trong trường hợp ấy việc tầm cầu đồ chúng của người ấy là vì mong muốn đạt được chỉ tiêu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì đạt được bản thể năng lực ở sáu Thắng Trí ví như người nam một mình thực hiện việc thành tựu chỉ tiêu. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy hoàn thành mục tiêu của bản thể Sa-môn với các sự gắng sức này, tợ như người nam thực hiện việc thành tựu chỉ tiêu cùng với đồ chúng.
BJT 4Tâu đại vương, việc đọc tụng cũng có nhiều lợi ích, việc học hỏi cũng có nhiều lợi ích, việc xây dựng công trình mới cũng có nhiều lợi ích, việc bố thí cũng có nhiều lợi ích, việc cúng dường cũng có nhiều lợi ích cho những người này, những người nọ có công việc cần phải làm.
Tâu đại vương, giống như người nam hầu cận đức vua, có công việc đã được hoàn thành nhờ vào các quan đại thần, nhân công, binh lính, người giữ cổng, lính gác, quần thần, dân chúng, đối với người ấy khi công việc cần làm chưa đạt được thì tất cả những người ấy đều là những sự trợ giúp. Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đọc tụng cũng có nhiều lợi ích, việc học hỏi cũng có nhiều lợi ích, việc xây dựng công trình mới cũng có nhiều lợi ích, việc bố thí cũng có nhiều lợi ích, việc cúng dường cũng có nhiều lợi ích cho những người này, những người nọ có công việc cần phải làm.
Tâu đại vương, nếu tất cả đều được thanh tịnh ở dòng dõi, có thể không có việc cần phải làm với việc chỉ dạy. Tâu đại vương, và bởi vì có việc cần phải làm với việc lắng nghe. Tâu đại vương, trưởng lão Sāriputta, có thiện căn đã được tích lũy liên quan đến vô lượng kiếp, không thể đếm được, đã đạt đến tột đỉnh của trí tuệ, ngay cả vị ấy không có sự lắng nghe cũng không thể đạt được sự diệt tận các lậu hoặc. Tâu đại vương, vì thế việc lắng nghe cũng có nhiều lợi ích, việc đọc tụng, việc học hỏi cũng như thế. Vì thế, việc đọc tụng và học hỏi là pháp không chướng ngại, là pháp không tạo tác.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã được giải quyết khéo léo. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về pháp không chướng ngại là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘nippapañcārāmā, bhikkhave, viharatha nippapañcaratino’ti, katamaṁ taṁ nippapañcan”ti?
“Sotāpattiphalaṁ, mahārāja, nippapañcaṁ, sakadāgāmiphalaṁ nippapañcaṁ, anāgāmiphalaṁ nippapañcaṁ, arahattaphalaṁ nippapañcan”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, sotāpattiphalaṁ nippapañcaṁ, sakadāgāmianāgāmiarahattaphalaṁ nippapañcaṁ, kissa pana ime bhikkhū uddisanti paripucchanti suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthaṁ udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ, navakammena palibujjhanti dānena ca pūjāya ca, nanu te jinappaṭikkhittaṁ kammaṁ karontī”ti?
“Ye te, mahārāja, bhikkhū uddisanti paripucchanti suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthaṁ udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ, navakammena palibujjhanti dānena ca pūjāya ca, sabbe te nippapañcassa pattiyā karonti.
Ye te, mahārāja, sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena nippapañcā honti.
Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te imehi payogehi nippapañcā honti.
Yathā, mahārāja, eko puriso khette bījaṁ ropetvā attano yathābalavīriyena vinā pākāravatiyā dhaññaṁ uddhareyya, eko puriso khette bījaṁ ropetvā vanaṁ pavisitvā kaṭṭhañca sākhañca chinditvā vatipākāraṁ katvā dhaññaṁ uddhareyya.
Yā tattha tassa vatipākārapariyesanā, sā dhaññatthāya.
Evameva kho, mahārāja, ye te sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena nippapañcā honti, vinā vatipākāraṁ puriso viya dhaññuddhāro.
Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te imehi payogehi nippapañcā honti, vatipākāraṁ katvā puriso viya dhaññuddhāro.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso mahatimahante ambarukkhamatthake phalapiṇḍi bhaveyya, atha tattha yo koci iddhimā āgantvā tassa phalaṁ hareyya, yo pana tattha aniddhimā, so kaṭṭhañca valliñca chinditvā nisseṇiṁ bandhitvā tāya taṁ rukkhaṁ abhiruhitvā phalaṁ hareyya.
Yā tattha tassa nisseṇipariyesanā, sā phalatthāya.
Evameva kho, mahārāja, ye te sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena nippapañcā honti, iddhimā viya rukkhaphalaṁ haranto.
Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te iminā payogena saccāni abhisamenti, nisseṇiyā viya puriso rukkhaphalaṁ haranto.
Yathā vā pana, mahārāja, eko puriso atthakaraṇiko ekakoyeva sāmikaṁ upagantvā atthaṁ sādheti.
Eko dhanavā dhanavasena parisaṁ vaḍḍhetvā parisāya atthaṁ sādheti.
Yā tattha tassa parisapariyesanā, sā atthatthāya.
Evameva kho, mahārāja, ye te sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena chasu abhiññāsu vasibhāvaṁ pāpuṇanti, puriso viya ekako atthasiddhiṁ karonto.
Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te imehi payogehi sāmaññatthamabhisādhenti, parisāya viya puriso atthasiddhiṁ karonto.
Uddesopi, mahārāja, bahukāro, paripucchāpi bahukārā, navakammampi bahukāraṁ, dānampi bahukāraṁ, pūjāpi bahukārā tesu tesu karaṇīyesu.
Yathā, mahārāja, puriso rājūpasevī katāvī amaccabhaṭabaladovārikaanīkaṭṭhapārisajjajanehi, te tassa karaṇīye anuppatte sabbepi upakārā honti.
Evameva kho, mahārāja, uddesopi bahukāro, paripucchāpi bahukārā, navakammampi bahukāraṁ, dānampi bahukāraṁ, pūjāpi bahukārā tesu tesu karaṇīyesu.
Yadi, mahārāja, sabbepi abhijātiparisuddhā bhaveyyuṁ, anusāsanena karaṇīyaṁ na bhaveyya.
Yasmā ca kho, mahārāja, savanena karaṇīyaṁ hoti, thero, mahārāja, sāriputto aparimitamasaṅkheyyakappaṁ upādāya upacitakusalamūlo paññāya koṭiṁ gato, sopi vinā savanena nāsakkhi āsavakkhayaṁ pāpuṇituṁ, tasmā, mahārāja, bahukāraṁ savanaṁ, tathā uddesopi paripucchāpi, tasmā uddesaparipucchāpi nippapañcā saṅkhatā”ti.
“Sunijjhāpito, bhante nāgasena, pañho, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Nippapañcapañho paṭhamo.
PTS vp En 92 PTS cs 1 ‘Venerable Nāgasena, the Blessed One said:
“Live, O brethren, devoted to and taking delight in that which has no Papañcas (none of those states of mind which delay or obstruct a man in his spiritual growth).”
‘What is that which has no Papañcas?’
‘The fruit of Conversion has no Papañcas, O king, the fruit of that stage of the Path in which those live who will be only once, or not all reborn, the fruit of Arahatship has no Papañcas.’
‘But if that be so, Nāgasena, PTS vp Pali 263 Then why do the brethren concern themselves with recitation of, with asking questions about the discourses, and the pieces in mixed prose and verse, and the expositions, and the poems, and the outbursts of emotion, and the passages beginning “Thus he said,” and the birth-stories, and the tales of wonder, and the extended treatises ? Why do they trouble themselves about new buildings about gifts and offerings to the order?’ PTS vp En 93
PTS cs 2 ‘They who do all these things, O king, are working towards attainment of freedom from the Papañcas, (that is of Arahatship). For whereas, O king, all those of the brethren who are pure by nature, those upon whose hearts an impression has been left by good deeds done in a former birth, can (get rid of the Papañcas, can) become Arahats, in a moment—those on the other hand whose minds are much darkened by evil can only become Arahats by such means as these.
PTS cs 3 ‘Just, O king, as while one man who has sown a field and got the seed to grow can, by the exertion of his own power, and without any rampart or fence, reap the crop—whereas another man when he has got the seed to grow must go into the woods, and cut down sticks and branches and make a fence of them, and thus only reap the crop—in the same way those who are pure by nature, upon whose hearts an impression has been left by good deeds done in a former birth, can, in a moment, become Arahats, like the man who gathers the crop without a fence. But those, on the other hand, whose minds are darkened by the evil they have done can only become Arahats by such means as these—like the man who can only reap his crop if he builds the fence.
PTS cs 4 ‘Or just, O king, as there might be a bunch of fruits on the summit of a lofty mango tree. Then PTS vp En 94 whoever possesses the power of Iddhi could take those fruits, but whoever had not, he would have first to cut sticks and creepers and construct a ladder, and by its means climb up the tree and so get at the fruit. In the same way those who are by nature pure, and upon whose hearts an impression has been left by good deeds done in a former birth, may attain, in a moment, to Arahatship, like the man getting the fruit by the power of Iddhi. But those, on the other hand, whose minds are darkened by the evil they have done can only become Arahats by such means as these, like the man who only gets the fruit by means of the ladder he has made.
PTS cs 5 PTS vp Pali 264 ‘Or just, O king, as while one man who is clever in business will go alone to his lord and conclude any business he has to do, another man, rich though he may be, must by his riches bring others to his service, and by their help get the business done—and it is for the business’ sake that he has to seek after them. In the same way those who are by nature pure, upon whose hearts an impression has been left by good deeds done in a former birth, may reach, in a moment, to the attainment of the Six Transcendent Qualities, like the man who does the business alone by himself Whereas those brethren whose minds are darkened by the evil they have done can only by such means as these realise the gains of renunciation, like the man who through others’ help brings his business to the desired end. PTS vp En 95
PTS cs 6 ‘For recitation is of great good, O king, and asking questions, and superintending building work, and seeing to gifts and offerings is of great good—each of them to one or other of the spiritual objects which the brethren seek to obtain. just, O king, as there might be some one of the ministers or soldiers or messengers or sentries or body-guards or attendants who was especially serviceable and useful to the king, but when he had any business given him to do they would all help him—just so are all these things of assistance when those objects have to be attained. When all men, O king, shall have become by nature pure, then will there be nothing left for a teacher to accomplish. But so long as there is still need of discipleship, so long will even such a man, O king, as the Elder Sāriputta himself (though he had attained to the summit of wisdom by reason of his having been, through countless ages, deeply rooted in merit), yet find it impossible, without discipleship, to attain to Arahatship. Therefore is it, O king, that hearing (the Scriptures) is of use, and recitation of them, and asking questions about them. And therefore is it that those also who are addicted to PTS vp En 96 These things, becoming free from the obstacles thereto, attain to Arahatship.’
‘Right well have you made me understand this puzzle, Nāgasena. That is so, and I accept it as you say.
Here ends the dilemma as to the obstacles.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, các ngươi hãy sống có sự vui thích ở pháp không chướng ngại, có sự thích thú ở pháp không chướng ngại.’ Pháp không chướng ngại ấy là pháp nào?”
“Tâu đại vương, quả vị Nhập Lưu là pháp không chướng ngại, quả vị Nhất Lai là pháp không chướng ngại, quả vị Bất Lai là pháp không chướng ngại, quả vị A-la-hán là pháp không chướng ngại.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu quả vị Nhập Lưu là pháp không chướng ngại, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán là pháp không chướng ngại, vậy thì tại sao các vị tỳ khưu này lại đọc tụng, lại học hỏi về (chín thể loại:) suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ,”
lại bị chướng ngại vì công trình mới, vì việc bố thí, và vì việc cúng dường? Không lẽ các vị lại tiến hành công việc đã bị đấng Chiến Thắng từ khước?”
BJT 2“Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào đọc tụng, học hỏi về (chín thể loại:) suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ, bị chướng ngại vì công trình mới, vì việc bố thí, và vì việc cúng dường, tất cả những vị ấy làm nhằm đạt được pháp không chướng ngại.
Tâu đại vương, những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì có được pháp không chướng ngại. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy có được pháp không chướng ngại với các sự gắng sức này.
Tâu đại vương, giống như một người nam sau khi gieo hạt giống ở thửa ruộng, rồi trồng trọt cây lúa bằng sức mạnh và nỗ lực của bản thân, không cần tường thành và hàng rào. Một người nam (khác) sau khi gieo hạt giống ở thửa ruộng, thì đi vào rừng chặt cành cây và nhánh cây làm hàng rào và tường, rồi trồng trọt cây lúa; trong trường hợp ấy việc tầm cầu hàng rào và tường thành của người ấy là vì mong muốn đạt được cây lúa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì có được pháp không chướng ngại, tợ như người nam có sự trồng trọt cây lúa không cần hàng rào và tường thành. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy có được pháp không chướng ngại với các sự gắng sức này, ví như người nam có sự trồng trọt cây lúa sau khi đã làm hàng rào và tường thành.
Tâu đại vương, hoặc là giống như có chùm trái ở ngọn cây xoài cao to vĩ đại, rồi một người nào đó, có thần thông, sau khi đi đến nơi ấy có thể hái trái của cây ấy. Trái lại, tại nơi ấy người nào không có thần thông, người ấy chặt cành cây và dây leo rồi buộc thành cái thang, nhờ nó leo lên cây ấy, rồi hái trái; trong trường hợp ấy, việc tầm cầu cái thang của người ấy là vì mong muốn đạt được trái cây.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì có được pháp không chướng ngại, tợ như người có thần thông hái được trái cây. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy chứng ngộ các Chân Lý với các sự gắng sức này, tợ như người nam hái được trái cây nhờ vào cái thang.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như một người nam là ngưòi làm theo chỉ tiêu, chỉ một mình đi đến gặp người chủ rồi hoàn thành chỉ tiêu. Một người (khác) có tài sản, phát triển đồ chúng nhờ vào năng lực của tài sản, rồi hoàn thành chỉ tiêu cùng với đồ chúng; trong trường hợp ấy việc tầm cầu đồ chúng của người ấy là vì mong muốn đạt được chỉ tiêu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì đạt được bản thể năng lực ở sáu Thắng Trí ví như người nam một mình thực hiện việc thành tựu chỉ tiêu. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy hoàn thành mục tiêu của bản thể Sa-môn với các sự gắng sức này, tợ như người nam thực hiện việc thành tựu chỉ tiêu cùng với đồ chúng.
BJT 4Tâu đại vương, việc đọc tụng cũng có nhiều lợi ích, việc học hỏi cũng có nhiều lợi ích, việc xây dựng công trình mới cũng có nhiều lợi ích, việc bố thí cũng có nhiều lợi ích, việc cúng dường cũng có nhiều lợi ích cho những người này, những người nọ có công việc cần phải làm.
Tâu đại vương, giống như người nam hầu cận đức vua, có công việc đã được hoàn thành nhờ vào các quan đại thần, nhân công, binh lính, người giữ cổng, lính gác, quần thần, dân chúng, đối với người ấy khi công việc cần làm chưa đạt được thì tất cả những người ấy đều là những sự trợ giúp. Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đọc tụng cũng có nhiều lợi ích, việc học hỏi cũng có nhiều lợi ích, việc xây dựng công trình mới cũng có nhiều lợi ích, việc bố thí cũng có nhiều lợi ích, việc cúng dường cũng có nhiều lợi ích cho những người này, những người nọ có công việc cần phải làm.
Tâu đại vương, nếu tất cả đều được thanh tịnh ở dòng dõi, có thể không có việc cần phải làm với việc chỉ dạy. Tâu đại vương, và bởi vì có việc cần phải làm với việc lắng nghe. Tâu đại vương, trưởng lão Sāriputta, có thiện căn đã được tích lũy liên quan đến vô lượng kiếp, không thể đếm được, đã đạt đến tột đỉnh của trí tuệ, ngay cả vị ấy không có sự lắng nghe cũng không thể đạt được sự diệt tận các lậu hoặc. Tâu đại vương, vì thế việc lắng nghe cũng có nhiều lợi ích, việc đọc tụng, việc học hỏi cũng như thế. Vì thế, việc đọc tụng và học hỏi là pháp không chướng ngại, là pháp không tạo tác.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã được giải quyết khéo léo. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về pháp không chướng ngại là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘nippapañcārāmā, bhikkhave, viharatha nippapañcaratino’ti, katamaṁ taṁ nippapañcan”ti?
“Sotāpattiphalaṁ, mahārāja, nippapañcaṁ, sakadāgāmiphalaṁ nippapañcaṁ, anāgāmiphalaṁ nippapañcaṁ, arahattaphalaṁ nippapañcan”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, sotāpattiphalaṁ nippapañcaṁ, sakadāgāmianāgāmiarahattaphalaṁ nippapañcaṁ, kissa pana ime bhikkhū uddisanti paripucchanti suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthaṁ udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ, navakammena palibujjhanti dānena ca pūjāya ca, nanu te jinappaṭikkhittaṁ kammaṁ karontī”ti?
“Ye te, mahārāja, bhikkhū uddisanti paripucchanti suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthaṁ udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ, navakammena palibujjhanti dānena ca pūjāya ca, sabbe te nippapañcassa pattiyā karonti.
Ye te, mahārāja, sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena nippapañcā honti.
Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te imehi payogehi nippapañcā honti.
Yathā, mahārāja, eko puriso khette bījaṁ ropetvā attano yathābalavīriyena vinā pākāravatiyā dhaññaṁ uddhareyya, eko puriso khette bījaṁ ropetvā vanaṁ pavisitvā kaṭṭhañca sākhañca chinditvā vatipākāraṁ katvā dhaññaṁ uddhareyya.
Yā tattha tassa vatipākārapariyesanā, sā dhaññatthāya.
Evameva kho, mahārāja, ye te sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena nippapañcā honti, vinā vatipākāraṁ puriso viya dhaññuddhāro.
Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te imehi payogehi nippapañcā honti, vatipākāraṁ katvā puriso viya dhaññuddhāro.
Yathā vā pana, mahārāja, puriso mahatimahante ambarukkhamatthake phalapiṇḍi bhaveyya, atha tattha yo koci iddhimā āgantvā tassa phalaṁ hareyya, yo pana tattha aniddhimā, so kaṭṭhañca valliñca chinditvā nisseṇiṁ bandhitvā tāya taṁ rukkhaṁ abhiruhitvā phalaṁ hareyya.
Yā tattha tassa nisseṇipariyesanā, sā phalatthāya.
Evameva kho, mahārāja, ye te sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena nippapañcā honti, iddhimā viya rukkhaphalaṁ haranto.
Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te iminā payogena saccāni abhisamenti, nisseṇiyā viya puriso rukkhaphalaṁ haranto.
Yathā vā pana, mahārāja, eko puriso atthakaraṇiko ekakoyeva sāmikaṁ upagantvā atthaṁ sādheti.
Eko dhanavā dhanavasena parisaṁ vaḍḍhetvā parisāya atthaṁ sādheti.
Yā tattha tassa parisapariyesanā, sā atthatthāya.
Evameva kho, mahārāja, ye te sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena chasu abhiññāsu vasibhāvaṁ pāpuṇanti, puriso viya ekako atthasiddhiṁ karonto.
Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te imehi payogehi sāmaññatthamabhisādhenti, parisāya viya puriso atthasiddhiṁ karonto.
Uddesopi, mahārāja, bahukāro, paripucchāpi bahukārā, navakammampi bahukāraṁ, dānampi bahukāraṁ, pūjāpi bahukārā tesu tesu karaṇīyesu.
Yathā, mahārāja, puriso rājūpasevī katāvī amaccabhaṭabaladovārikaanīkaṭṭhapārisajjajanehi, te tassa karaṇīye anuppatte sabbepi upakārā honti.
Evameva kho, mahārāja, uddesopi bahukāro, paripucchāpi bahukārā, navakammampi bahukāraṁ, dānampi bahukāraṁ, pūjāpi bahukārā tesu tesu karaṇīyesu.
Yadi, mahārāja, sabbepi abhijātiparisuddhā bhaveyyuṁ, anusāsanena karaṇīyaṁ na bhaveyya.
Yasmā ca kho, mahārāja, savanena karaṇīyaṁ hoti, thero, mahārāja, sāriputto aparimitamasaṅkheyyakappaṁ upādāya upacitakusalamūlo paññāya koṭiṁ gato, sopi vinā savanena nāsakkhi āsavakkhayaṁ pāpuṇituṁ, tasmā, mahārāja, bahukāraṁ savanaṁ, tathā uddesopi paripucchāpi, tasmā uddesaparipucchāpi nippapañcā saṅkhatā”ti.
“Sunijjhāpito, bhante nāgasena, pañho, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Nippapañcapañho paṭhamo.