BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, tại sao mặt trời chiếu sáng thô tháo vào mùa lạnh, nhưng không như thế vào mùa nắng?”
BJT 2“Tâu đại vương, vào mùa nắng bụi bặm không bị tiêu hoại. Các bụi phấn, bị khuấy động bởi gió, đi vào không trung, thậm chí ở không trung mây là vô cùng dày đặc, và gió lớn thổi mạnh hơn. Tất cả các điều ấy với nhiều nguồn khác nhau, được tổng hợp lại, che chắn các tia sáng của mặt trời. Vì thế, vào mùa nắng mặt trời chiếu sáng yếu ớt.
Tâu đại vương, trái lại vào mùa lạnh, ở phía bên dưới, trái đất thì lạnh. Ở phía bên trên, đám mây lớn được lắng đọng lại, bụi bặm thì yên tịnh. Và bụi phấn di chuyển vô cùng êm ả ở không trung, bầu trời không có mây đen, và gió thổi vô cùng yếu ớt. Do sự lắng đọng của những việc này, các tia sáng của mặt trời là trong trẻo, khi mặt trời được thoát khỏi việc bị tổn hại, ánh sáng của nó chiếu sáng cực kỳ. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy mặt mặt trời chiếu sáng thô tháo vào mùa lạnh, không như thế vào mùa nắng.”
BJT 3“Thưa ngài, mặt trời, khi được thoát khỏi tất cả các tai ương thì chiếu sáng thô tháo, khi đồng hành cùng các đám mây, v.v… thì không chiếu sáng thô tháo.”
Câu hỏi về sự chiếu sáng của mặt trời là thứ mười.
Phẩm không chướng ngại là phẩm thứ nhì.
(Ở phẩm này có mười câu hỏi)
“Bhante nāgasena, kissa hemante sūriyo kaṭhinaṁ tapati, no tathā gimhe”ti?
“Gimhe, mahārāja, anupahataṁ hoti rajojallaṁ, vātakkhubhitā reṇū gaganānugatā honti, ākāsepi abbhā subahalā honti, mahāvāto ca adhimattaṁ vāyati, te sabbe nānākulā samāyutā sūriyaraṁsiyo pidahanti, tena gimhe sūriyo mandaṁ tapati.
Hemante pana, mahārāja, heṭṭhā pathavī nibbutā hoti, upari mahāmegho upaṭṭhito hoti, upasantaṁ hoti rajojallaṁ, reṇu ca santasantaṁ gagane carati, vigatavalāhako ca hoti ākāso, vāto ca mandamandaṁ vāyati, etesaṁ uparatiyā visuddhā honti sūriyaraṁsiyo, upaghātavimuttassa sūriyassa tāpo ativiya tapati.
Idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena sūriyo hemante kaṭhinaṁ tapati, no tathā gimhe”ti.
“Sabbītimutto, bhante, sūriyo kaṭhinaṁ tapati, meghādisahagato kaṭhinaṁ na tapatī”ti.
Kaṭhinatapanapañho dasamo.
Nippapañcavaggo dutiyo.
Imasmiṁ vagge dasa pañhā.
PTS cs 24 ‘Venerable Nāgasena, why is it that the heat of the sun is more fierce in winter than in summer?’
‘In the hot season, O king, dust is blown up into clouds, and pollen agitated by the winds rises up into the sky, and clouds multiply in the heavens, and gales blow with exceeding force. All these crowded and heaped together shut off the rays of the sun, and so in the hot season the heat of the sun is diminished. But in the cold season, O king, the earth below is at rest, the rains above are PTS vp En 113 in reserve, the dust is quiet, the pollen wanders gently through the air, the sky is free from clouds, and very gently do the breezes blow. Since all these have ceased to act the rays of the sun become clear, and freed from every obstruction the sun’s heat glows and burns. This, O king, is the reason why the heat of the sun is more fierce in winter than in summer.
‘So it is when set free from the obstacles besetting it that the sun burns fiercely, which it cannot do when the rains and so on are present with it.’
[‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’]
Here ends the dilemma of the seasons.
Here ends the Seventh Chapter.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, tại sao mặt trời chiếu sáng thô tháo vào mùa lạnh, nhưng không như thế vào mùa nắng?”
BJT 2“Tâu đại vương, vào mùa nắng bụi bặm không bị tiêu hoại. Các bụi phấn, bị khuấy động bởi gió, đi vào không trung, thậm chí ở không trung mây là vô cùng dày đặc, và gió lớn thổi mạnh hơn. Tất cả các điều ấy với nhiều nguồn khác nhau, được tổng hợp lại, che chắn các tia sáng của mặt trời. Vì thế, vào mùa nắng mặt trời chiếu sáng yếu ớt.
Tâu đại vương, trái lại vào mùa lạnh, ở phía bên dưới, trái đất thì lạnh. Ở phía bên trên, đám mây lớn được lắng đọng lại, bụi bặm thì yên tịnh. Và bụi phấn di chuyển vô cùng êm ả ở không trung, bầu trời không có mây đen, và gió thổi vô cùng yếu ớt. Do sự lắng đọng của những việc này, các tia sáng của mặt trời là trong trẻo, khi mặt trời được thoát khỏi việc bị tổn hại, ánh sáng của nó chiếu sáng cực kỳ. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy mặt mặt trời chiếu sáng thô tháo vào mùa lạnh, không như thế vào mùa nắng.”
BJT 3“Thưa ngài, mặt trời, khi được thoát khỏi tất cả các tai ương thì chiếu sáng thô tháo, khi đồng hành cùng các đám mây, v.v… thì không chiếu sáng thô tháo.”
Câu hỏi về sự chiếu sáng của mặt trời là thứ mười.
Phẩm không chướng ngại là phẩm thứ nhì.
(Ở phẩm này có mười câu hỏi)
“Bhante nāgasena, kissa hemante sūriyo kaṭhinaṁ tapati, no tathā gimhe”ti?
“Gimhe, mahārāja, anupahataṁ hoti rajojallaṁ, vātakkhubhitā reṇū gaganānugatā honti, ākāsepi abbhā subahalā honti, mahāvāto ca adhimattaṁ vāyati, te sabbe nānākulā samāyutā sūriyaraṁsiyo pidahanti, tena gimhe sūriyo mandaṁ tapati.
Hemante pana, mahārāja, heṭṭhā pathavī nibbutā hoti, upari mahāmegho upaṭṭhito hoti, upasantaṁ hoti rajojallaṁ, reṇu ca santasantaṁ gagane carati, vigatavalāhako ca hoti ākāso, vāto ca mandamandaṁ vāyati, etesaṁ uparatiyā visuddhā honti sūriyaraṁsiyo, upaghātavimuttassa sūriyassa tāpo ativiya tapati.
Idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena sūriyo hemante kaṭhinaṁ tapati, no tathā gimhe”ti.
“Sabbītimutto, bhante, sūriyo kaṭhinaṁ tapati, meghādisahagato kaṭhinaṁ na tapatī”ti.
Kaṭhinatapanapañho dasamo.
Nippapañcavaggo dutiyo.
Imasmiṁ vagge dasa pañhā.